Việt Nam lựa chọn gì trong thế giới hôm nay? (Nguyễn Trung)


LTS: Dưới đây là tham khảo của ông Nguyễn Trung buổi hội thảo "Quan hệ Mỹ - Nga - Trung trong bối cảnh thế giới mới và vấn đề đặt ra cho Việt Nam" - của Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, ngày 24-03-2016. Bài tham khảo khá dài nên BBT xin được rút ngắn thành hai kỳ và giữ lại những phần liên quan đến VN và xin miễn ghi phần tài liệu trích lục vì giới hạn của báo TQ. Ông Nguyễn Trung từng là thành viên của toán cố vấn cho cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, nguyên đại sứ CSVN tại Thái Lan.

Bàn về sự lựa chọn
VÀO LÚC THẾ GIỚI đang chuyển dịch vào thời kỳ có nhiều biến động mới và rối loạn mới, câu hỏi nước ta lựa chọn gì? như vậy càng trở nên bức thiết.  
Câu hỏi nước ta lựa chọn gì? là thường trực trong quá trình vận động của đời sống đất nước, chí ít đã xuất hiện ngay sau 30-04-1975, khi nước nhà độc lập thống nhất. Trước đó chỉ toàn là chiến tranh và chiến tranh trong một cục diện quốc tế khiến nước ta khó có thể làm gì khác được, nên tạm không tính đến, sẽ để bàn sau. Vậy xin tập trung điểm lại quá khứ từ 30-04-1975 đến nay, để rút kinh nghiệm cho hiện tại, cho tương lai.
Sau 2 cuộc kháng chiến đẫm máu kéo dài 30 năm của một đất nước bị xé đôi, ngay lập tức nước ta hiển nhiên khách quan đứng trước đòi hỏi phải đi vào con đường dân chủ hòa giải dân tộc, hàn gắn vết thương chia cắt và chiến tranh, lựa chọn cho tổ quốc Việt Nam độc lập thống nhất con đường phát triển vì chính mình chứ không vì một thứ chủ nghĩa nào cả; đồng thời trên phương diện đối ngoại nước ta phải một mặt cần chủ động tìm đường hữu hảo ngay với các đối phương ta vừa đánh bại, mặt khác phải sớm tạo ra cho đất nước khả năng làm bạn với cả thế giới, để gìn giữ thành quả kháng chiến, tự bảo vệ mình và phát huy vai trò của mình, tìm đường làm ăn với cả thế giới để sống và phát triển… (ngày xưa cha ông chúng ta đã từng ứng xử tương tự như thế!). Nhưng tiếc thay, đất nước đã lựa chọn – hay nói đúng hơn là đã bị đẩy vào – con đường tiến nhanh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, với mọi hệ lụy cho đến hôm nay.
Câu hỏi lựa chọn gì?  đã được trả lời cho chiến thắng 30-04-1975 như vậy là sai lầm mang tầm vóc chiến lược. Lựa chọn này dẫn tới con đường phát triển không thể nào cưỡng lại được suốt 40 năm qua, và thậm chí hiện nay không dễ gì thoát ra.
Có ý kiến cho nhận định như thế là “sai, thoát ly những điều kiện lịch sử, khiên cưỡng và duy lý…”: Hoàn cảnh khách quan và khả năng tư duy thời ấy không cho phép nghĩ khác để lựa chọn khác.  Phản bác trên có lý về mặt nào đó, ở góc độ quá khứ.
 Tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu sự vật khách quan, ở góc độ phân tích được/mất của quốc gia trong mối quan hệ giữa Việt Nam và cả thế giới còn lại, từ chỗ đứng hôm nay, cần thừa nhận đây là sai lầm chiến lược mang lại cho đất nước thất bại chiến lược, có nguyên nhân gốc là tư duy ý thức hệ. Nguyên nhân gốc này chi phối toàn bộ sự vận động của Việt Nam suốt 40 năm qua và mọi lựa chọn đã trải qua. Đánh giá này có ý nghĩa thời sự, vì từ sau 30-04-1975 cho đến hôm nay, ĐCSVN chưa một lần nào rút ra kết luận nói trên, nên đã xảy ra 4 lần sai lầm chiến lược tiếp theo; đó là:
- Câu hỏi nước ta lựa chọn gì? nóng lên khi các nước xã hội chủ nghĩa cũ trong khối Liên Xô – Đông Âu sụp đổ, Việt Nam có cơ hội thoát khỏi cái gọi là “2 phe – 4 mâu thuẫn” để trở thành một nước độc lập tự chủ với đúng nghĩa trong một thế giới không còn tập hợp lực lượng thời chiến tranh lạnh I… Nhưng đất nước đã bị đẩy vào con đường Thành Đô (1990).
- Câu hỏi lựa chọn gì? lại một lần nữa nóng lên vào đầu thập kỷ 1990, khi mọi điều kiện cho Việt Nam hội nhập thế giới, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và gia nhập WTO đã chín muồi… Nhưng đất nước cứ dùng dằng loay hoay mãi… Hệ quả là hội nhập bị động và chậm mất khoảng 5 năm, trong cái thế giới “chậm một bước, hận nghìn thu!”! Cái giá phải trả cho sự chậm trễ này rất lớn. 
- Câu hỏi lựa chọn gì? một lần nữa lại bị ném đi, khi năm 2013 đất nước tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Không chỉ có thế, những ý kiến   tán thành sửa đổi Hiến pháp theo tinh thần Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945 và Hiến pháp 1946 (thể hiện trong “kiến nghị 72” đều bị coi là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức!" Công sức bỏ ra rất lớn, song chỉ lựa chọn được một Hiến pháp bảo tồn cái hiện có, không thể mở ra cho đất nước một thời kỳ phát triển mới. 
-Tại thời điểm họp Đại hội XII của ĐCSVN, đất nước đứng trước bước ngoặt lịch sử – được tạo ra bởi 2 yếu tố quyết định: (a)Việt Nam đang sống trong một thế giới hoàn toàn khác, và (b)bản thân Việt Nam buộc phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Thực tế này khiến câu hỏi Việt Nam lựa chọn gì? đặt ra những thay đổi phải thực hiện có tầm vóc chiến lược mang tính đổi đời đất nước. Nhưng câu hỏi này bị bỏ qua, Đại hội trên thực tế chỉ giải quyết vấn đề nhân sự, nghị quyết Đại hội XII khẳng định tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác – Lênin, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. 
Như vậy, trong 40 năm độc lập thống nhất, ít nhất đã 5 lần đất nước đứng trước sự lựa chọn chiến lược, và cả 5 lần đều liên tiếp lựa chọn: loại bỏ cơ hội để bảo toàn chế độ! Thực tế lặp đi lặp lại 5 lần như vậy nói lên tất cả, đòi hỏi phải xem lại tất cả. Thực tế này góp phần giải thích nguyên nhân tụt hậu và lạc hậu của đất nước, cái giả phải trả rất đắt, nhưng không oan uổng!
Nhức nhối hơn nữa: 40 năm qua trong cộng đồng dân tộc nước ta có không biết bao nhiêu kiến giải cho sự lựa chọn đúng, nhưng tiếc thay tất cả đều không được lắng nghe. Trong những kiến giải này, rất đáng chú ý là những đề nghị bằng văn bản của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong thư  ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị ĐCSVN, ông chính thức đề nghị:
 - phải nhìn nhận lại thế giới để thay đổi mục tiêu chiến lược cần lựa chọn cho đất nước,
- cần xây dựng nhà nước pháp quyền và đổi mới Đảng về đường lối và về tổ chức để thực hiện. 
 Xin lưu ý, kiến nghị Võ Văn Kiệt được đưa ra vào thời điểm đất nước hội tụ được 3 thuận lợi lớn: Công cuộc đổi mới giành thành tựu ngọan mục, Việt Nam hoàn tất bình thường hóa quan hệ với Mỹ và hội nhập quốc tế toàn diện, Trung Quốc phải lựa chọn chiến lược “giấu mình chờ thời”; song đúng lúc này trong Đảng xuất hiện khuynh hướng đảo chiều.
 Cái khó đối với đất nước chúng ta hôm nay – và cũng là đối với Hội thảo này, là phải làm sao học hỏi được những sai lầm đã phải trả giá trong 40 năm qua, để từ đó mới hy vọng lựa chọn đúng và xây dựng được quyết tâm thực hiện.
II.Việt Nam đã ngủ quá lâu trong thế giới hôm nay
Năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, trong bài “Việt Nam trong thế giới của thập kỷ thứ hai thế kỷ 21”[5] tôi trình bầy:
“Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như vậy để gỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước trên con đường phát triển của mình.”
So với bức tranh nêu trên, có thể nói khái quát: Mới chỉ có 6 năm trôi qua, tình hình thế giới hôm nay quyết liệt hơn bội phần. Riêng trong 2 năm 2014 – 2015 Trung Quốc đã xây xong và đưa vào sử dụng hành lang các căn cứ quân sự xây trên các đảo và bãi đá tại Hoàng Sa – Trường Sa lấn chiếm của nước ta. Cái Vạn lý trường thành trên Biển Đông (đô đốc Harry Harris) này đặt đất nước ta vào trạng thái bên miệng hố chiến tranh!Nghĩa là, hiện nay đang có sự vênh nhau ngày càng lớn một cách nguy hiểm giữa một bên là các thách thức Việt Nam phải đối phó, và một bên là khả năng thích nghi không tới tầm của Việt Nam.
Để làm rõ, xin điểm qua thế giới hôm nay.
Trước hết phải nói tới (a) cuộc chiến tranh Syrie đã kéo dài 5 năm, ngày càng khốc liệt, và hôm nay đã hoàn toàn trở thành cuộc chiến tranh ủy nhiệm, (b) việc Nga sáp nhập Krym năm 2014, trực tiếp uy hiếp Ukraina, gây ra căng thẳng mới với NATO và Mỹ, và (c)với Đại hội 18 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (11-2012), Trung Quốc công khai khẳng định khát vọng siêu cường dưới tên gọi giấc mộng Trung Hoa – đặc biệt là ráo riết triển khai trận địa chiến lược ở Biển Đông. 3 sự kiện nóng bỏng này là đỉnh cao của cuộc chiến tranh lạnh mới hiện nay, xin gọi là chiến tranh lạnh II (bắt đầu từ ngay khi cuộc chiến tranh Iraq của Mỹ và liên quân kết thúc năm 2011. Sự kiện Krym và “đường lưỡi bò” mang tính chất vẽ lại bản đồ thế giới, nói lên tính nghiêm trọng lâu dài của chiến tranh lạnh II.
Trong bối cảnh trên, nạn thánh chiến của phong trào Nhà nước Hồi giáo (IS), nạn khủng bố, nạn di cư từ một số nước châu Phi vào châu Âu qua cửa ngõ Bắc Phi… đang gây ra những rối loạn mới khó kiểm soát, cả thế giới bị tác động. Trong khi đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu từ năm 2008 đến nay chưa kết thúc. Ngoài Mỹ đã phục hồi, các nền kinh tế lớn trên thế giới như Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật và một số nước quan trọng khác đang suy thoái tiếp. Thời kỳ Trung Quốc phát triển nóng 2 con số bị chặn đứng (hiện tượng hạ cánh cứng) – do khủng hoảng cơ cấu kinh tế và những biến động tài chính tiền tệ nghiêm trọng (vấn đề nợ của doanh nghiệp và các địa phương, vấn đề chảy máu vốn, vỡ bong bóng thị trường địa ốc, thị trường chứng khoán sụp đổ …). Thực tế này khiến nhiều đối tác quan trọng của Trung Quốc lao đao – vì thị trường nhập khẩu khổng lồ và thị trường đầu tư của Trung Quốc co lại. Trong khi đó Trung Quốc giương cao ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa và có các bước đi hiếu chiến để xuất khẩu áp lực trong nước ra bên ngoài.  Thế giới trong thời kỳ chiến tranh lạnh II hiện nay không còn nữa những ranh giới rành rọt như thời kỳ “2 phe 4 mâu thuẫn”  của chiến tranh lạnh I. Thay vào đấy là các mối quan hệ hợp tác và xung đột đan xen nhau, chồng lấn nhau xuyên quốc gia, xuyên khu vực và toàn cầu…
 Những thách thức mới này đòi hỏi gắt gao hơn bao giờ hết mọi quốc gia bản lĩnh mới, sự phát triển những khả năng đối phó và thích nghi mới, bao gồm khả năng hiệp đồng giữa các quốc gia và giữa các tập hợp khác nhau, khả năng tạo ra tập hợp lực lượng mới... Việt Nam đứng trước sự thật: Nếu cứ loay hoay tiếp tục sống theo cách lựa chọn như đã làm suốt 40 năm qua, Việt Nam sẽ ngày càng bất cập hơn so với đòi hỏi phát triển mới của chính mình và so với những thách thức từ thế giới bên ngoài, thân phận chư hầu là hệ quả tất yếu.  
Dẫn chứng 1: Nguồn lực tổng thể huy động được (tạm gọi là input) cho 3 thập kỷ tiến hành công nghiệp hóa của Việt Nam - tính từ đổi mới 1986 đến 2015 - lớn khoảng gấp đôi (hoặc có thể hơn) input của Hàn Quốc huy động được cho nhiệm vụ này thời kỳ 1960 – 1988. Với lợi thế nước đi sau, lại có điều kiện địa lý kinh tế tự nhiên giầu có hơn Hàn Quốc, giả định  Việt Nam thành công bằng hay gần bằng Hàn Quốc thời kỳ này, có lẽ Việt Nam hôm nay có một khả năng hội nhập và cạnh tranh hoàn toàn khác, chẳng những sẽ có thế và lực được nể trọng, mà còn có thể có được một thể chế chính trị của một nước công nghiệp hóa mà Việt Nam trong thế giới hôm nay đang rất cần.
Dẫn chứng 2: Trong chiến lược thôn tính Biển Đông, thử hỏi Trung Quốc từ năm 1956 (năm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam) đến  năm 2016 đã đi được một chặng đường như thế nào? Trong khi đó khả năng tổng hợp đối nội và đối ngoại của Việt Nam gìn giữ chủ quyền biển đảo của mình có theo kịp những thách thức do Trung Quốc gây ra hay không? Việt Nam hôm nay đang ở trong tình trạng nào trong mối quan hệ Việt – Trung nói riêng và trong mối quan hệ tổng thể giữa một bên là Trung Quốc và một bên là cả thế giới còn lại nói chung? Việt Nam đã tạo ra cho mình sự hợp tác và tập hợp lực lượng nào trên thế giới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của mình? Nước ta đã tạo ra được những lợi ích chung căn bản nào làm nền tảng cho các mối quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện có thực chất để xây dựng và bảo vệ tổ quốc? Thiết nghĩ xem xét như thế, sẽ không có gì là quá lời: 40 năm qua nước ta đã ngủ quá lâu trong một thế giới quyết liệt, nhất là bên cạnh cái chảo lửa Trung Quốc. 
Xin hết sức lưu ý: Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã trở thành một trong ba mặt trận chủ yếu của chiến tranh lạnh II, trong đó vùng nóng là Biển Đông. Tại đây, Việt Nam là chướng ngại vật tự nhiên đầu tiên của giấc mộng Trung Hoa, nghĩa là: Sau 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Việt Nam hôm nay lại một lần nữa trở thành nạn nhân của lời nguyền địa lý! 
Chính sách Việt Nam của Mỹ
Chiến tranh Việt Nam và mọi di sản của nó đối với Mỹ đã lùi xa vào quá khứ. Từ khi quan hệ hai nước bình thường hóa, Mỹ chủ động đáng kể cho sự phát triển mối quan hệ song phương Mỹ-Việt. Mỹ hôm nay đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong khu vực. Vì lợi ích toàn cầu của mình, Mỹ rất muốn Việt Nam trở thành đối tác chiến lược với đúng nghĩa. Song Mỹ cũng hiểu chế độ chính trị của ĐCSVN còn rất nhiều rào cản để Việt Nam trở thành một đối tác như vậy, Mỹ lựa chọn cách tiếp cận từng bước: tùy thuộc vào khả năng tự thay đổi của Việt Nam.
Mỹ hiểu và thừa nhận quan hệ láng giềng tốt của Việt Nam với Trung Quốc là lẽ tự nhiên có ý nghĩa sống còn đối với Việt Nam. Mỹ coi việc bảo vệ chủ quyền biển/đảo của Việt Nam trước hết và chủ yếu là việc của Việt Nam không ai làm thay được. Mỹ không có lợi ích biến Việt Nam thành một chư hầu chống Trung Quốc, cũng không có chuyện làm lính đánh thuê miễn phí giữ nhà hộ cho Việt Nam. Mỹ cam kết tôn trọng chế độ chính trị của Việt Nam, vì coi đó hoàn toàn là vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền của Việt Nam (chuyến đi Mỹ năm 2015 của TBT Nguyễn Phú Trọng). Mỹ coi một Việt Nam trở thành đối tác chiến lược của Mỹ với đúng nghĩa sẽ là một đóng góp rất quan trọng để giúp ASEAN trở thành một cộng đồng vững chắc và phồn vinh (hiện nay ASEAN còn đứng xa mục tiêu này). Một ASEAN như thế không thể thiếu đối với hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và ngoài khu vực. Hơn thế nữa, lợi ích chiến lược lâu dài và tối thượng của Mỹ không phải là gia tăng đối đầu nhằm xóa bỏ Trung Quốc, mà là muốn có một Trung Quốc có trách nhiệm xây dựng đúng với tầm vóc của mình đối với cộng đồng quốc tế. Một ASEAN vững chắc và phồn vinh rất quan trọng cho việc thúc đẩy xu hướng này.
Một đặc điểm khách quan của thời cuộc hôm nay là lợi ích chiến lược của Mỹ và của Việt Nam gặp nhau trên nhiều vấn đề quyết định, Việt Nam dám dấn thân tới đâu trong mối quan hệ song phương này, Mỹ sẵn sàng đi tới đó. Điều này cần phải được hiểu là Mỹ còn có những ưu tiên khác, những việc phải làm khác, những phương án khác. Bởi vì lợi ích và toàn bộ chiến lược toàn cầu của Mỹ đương nhiên không thể đặt cược vào sự chờ đợi Việt Nam đi nhanh hay chậm như thế nào trong quan hệ Việt – Mỹ. Trong mối quan hệ song phương này, Mỹ nhất thiết phải hành xử theo tinh thần ăn có mời, làm có khiến. (Ví dụ: Việt Nam bị cướp mà không kêu, người ngoài cuộc sao giúp được? Việt Nam muốn đề phòng cướp, cũng không thể ngồi há miệng chờ sung rụng được!
Đủ hay chưa đủ?: Nếu trò chơi “bên miệng hố chiến tranh” của Trung Quốc trên Biển Đông với trợ giúp của nhiều thứ khác (ví dụ: quyền lực mềm, quyền lực rắn – bao gồm cả kinh tế…) tới khi nào đó một mặt làm tê liệt vai trò lẽ ra phải có của ASEAN, bóp nghẹt đáng kể nhiều hoạt động kinh tế và dân sự cũng như sự phản kháng của Việt Nam và Philippines trong vấn đề Biển Đông; mặt khác giả thử Trung lợi dụng thành công những sự cố mới trên thế giới (các forces majeures) cho phép Trung Quốc phản ứng nhanh và tránh né được đụng độ trực tiếp với Mỹ trên Biển Đông, điều gì sẽ xẩy ra?
Xin đừng quên cuộc sống chính trị thế giới cho thấy có những trường hợp người thắng trong cuộc chơi không nhất thiết là người mạnh hơn, mà có thể lại là kẻ yếu hơn nhưng có khả năng sống sót dai dẳng hơn và tìm được sự phát triển hay thích nghi nào đó trong xung đột kéo dài (George Strausx-Hupé; tướng Trung Quốc Trì Hạo Điền). Với lợi thế tại chỗ, tài câu giờ và phản ứng linh họat, kẻ sảo quyệt có khả năng sống sót dai dẳng ở đây trong tình huống cụ thể của khu vực Biển Đông có thể và có lúc nào đó là Trung Quốc! - dù đấy sẽ chỉ là thắng lợi có giới hạn, tạm thời… Trong tình huống như vậy, vấn đề đặt ra là: Nước hay các nước bên thứ ba (trong đó có Việt Nam) có đủ khả năng và bản lĩnh sống sót qua được cái thắng có giới hạn và tạm thời này của Trung Quốc hay không? Đây là một thách đố lớn cho Việt Nam! Nhất là thế giới hôm nay có quá nhiều forces majeures khó lường! Cái nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông đối với các nước trong khu vực ĐNÁ và cả thế giới chính là điểm này, cần cảnh giác để không bị bất ngờ, không bàn lùi. Còn nếu sợ và lùi là sập bẫy Trung Quốc. Xin đừng quên: Suốt 30 năm qua hầu như mọi bước leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông đều có liên quan hay là nằm trong tình huống xảy ra một sự cố nào đó trên thế giới và trong khu vực.
 Sự lựa chọn của Mỹ hiện nay dưới thời Obama là bảo vệ dứt khoát red line nói trên và đồng thời đẩy mạnh chiến lược “xoay trục”. Song hiển nhiên như thế là chưa đủ, Trung Quốc vẫn tiếp tục lấn tới trên Biển Đông. Các bước leo thang của Trung Quốc tại Biển Đông trong 2 tháng đầu năm 2016 hiển nhiên quyết liệt hơn rõ rệt so với trước đó, không khí chiến tranh đang nóng lên, giữa lúc thế giới đang tiềm tàng những sự cố mới. Trong khi đó Donald Trump có tiếng nói khác lạ (đại ý: các căn cứ quân sự trên các đảo và bãi đá tại Hoàng Sa và Trường Sa  ở xa quá và đã được xây xong rồi. Mỹ có nhiều việc khác phải làm…), tác giả “trục xoay” Hillary Clinton chưa thấy nói gì thêm so với năm 2011. Trên thế giới đang dấy lên nỗi lo: Lợi dụng thời gian chuyển tiếp tổng thống mới ở Mỹ, Trung Quốc có thể dám có thêm những bước đi cứng rắn mới. Toàn bộ thực tế trình bầy trên đòi hỏi Mỹ và ASEAN – trước hết là Việt Nam – phải tìm ra cách tiếp cận hiệp đồng và tổng thể hơn nữa trong vấn đề Biển Đông, không được để xảy ra bất ngờ hoặc quá chậm trễ. Nhất thiết phải tạo ra tập hợp lực lượng ở phạm vi thế giới cho hòa bình ở Biển Đông. Tại đây, đánh giá đối phó của Mỹ và ASEAN với Trung Quốc, có câu hỏi: Đủ hay chưa đủ?
Về phần các nước bên thứ ba có liên quan nói chung – trước hết là Việt Nam – sẽ có thể trả lời là “Đủ!”, nếu có chính sách Biển Đông của mình dựa trên một dân tộc tự do và quật khởi. Một dân tộc như thế là vô địch và luôn luôn được cả thế giới hậu thuẫn. Song rất tiếc Việt Nam hôm nay đang thiếu chính cái điều kiện quyết định này. Trong khi đó ASEAN vẫn còn đứng cách xa cái đích chuyển DOC trở thành COC. Vâng, chữ nếu  này còn cam go lắm!
- Một sự thật khách quan hiện nay phải tính đến là Việt Nam và Mỹ - cả hai ở thời điểm hiện tại đều chưa tiến tới được cột mốc Việt Nam là đối tác chiến lược của Mỹ (hiện nay Việt Nam trên thực tế mới chỉ là một đối tác chiến lược tiềm năng, a potential/nascent strategic partner). Quan hệ Mỹ - Việt vì thế hiện nay chưa mang đầy đủ những yếu tố thuộc về lợi ích của các mối quan hệ đồng minh, chưa nói đến địa chính trị và địa kinh tế toàn cầu cho thấy Mỹ lúc này còn có những lợi ích chiến lược khác cần ưu tiên hơn.
- Toàn bộ thực tế khách quan nêu trên cho thấy: Trong mọi tình huống, yếu tố quyết định vận mệnh của Việt Nam trước sau vẫn là   sự chủ động của Việt Nam – bao gồm cả việc coi những thách thức hiện nay là cơ hội vừa bắt buộc, vừa cho phép Việt Nam phải chủ động đứng lên tạo ra cuộc chơi của mình, tạo ra tập hợp lực lượng mới tối ưu cho mình trên thế giới, để các người chơi phải chơi trong cuộc chơi do chính Việt Nam lựa chọn. Hoàn toàn không có câu hỏi Ai có thể làm thay Việt Nam được?  Mà chỉ có câu hỏi: Một Việt Nam phải như thế nào trong thế giới hôm nay mới có thể đứng lên tạo ra cuộc chơi của mình như thế - đúng với tính cách là một quốc gia độc lập, tự chủ, một thành viên dấn thân trong cộng đồng quốc tế? Làm cho câu hỏi này trở thành mối trăn trở của mỗi người dân, đất nước ta sẽ tạo ra cho mình sức sống mới.
 Một điều hệ trọng các nước hữu quan bên thứ ba, trong đó có Việt Nam, nên quan tâm để xử sự cho mình: Thực tế đang diễn ra trên toàn cầu cho thấy tùy thời mầu sắc có thể thay đổi đậm nhạt thế nào đi nữa, và dù làm gì – kể cả những răn đe nếu cần thiết, cuối cùng Mỹ vẫn xoay quanh ưu tiêu tối quan trọng của mình là hợp tác hay đấu tranh đều phải nhằm vào cái đích thúc đẩy các mối quan hệ Mỹ-Trung có lợi cho phát triển của nước Mỹ, có lợi cho xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới – trong đó Trung Quốc miễn cưỡng phải tham gia ở mức độ nhất định. Đơn giản vì dù có 3 đầu 6 tay Trung Quốc cũng không thể ngang nhiên chống lại cả thế giới, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào cả thế giới không nhỏ và không ít nhạy cảm. Mỹ lựa chọn phương thức chạy đua này, bởi vì trong đó Mỹ có lợi thế hơn hẳn Trung Quốc. Và đây cũng là một trong những phương thức quan trọng giúp Mỹ duy trì vai trò số 1 của mình trên thế giới: vừa hợp tác, vừa răn đe, tránh đối đầu trong chừng mực tình hình còn cho phép.
 Nhiều lần đã xảy ra trên bàn cờ thế giới: Mỹ hy sinh lợi ích bên thứ ba để phục vụ lợi ích của mình. Nên xem đây như một quy luật của cạnh tranh sinh tồn. (Cùng là XHCN với nhau, nhưng Trung Quốc đối xử với Việt Nam còn tệ hơn nhiều, có phải không?) Sẽ không có mấy ý nghĩa nếu chỉ bám lấy những quan điểm đạo đức để phê phán. Dại dột hơn nữa nếu lấy sự phê phán dựa trên quy phạm đạo đức làm chuẩn mực chi phối việc xây dựng quyết sách mới. Đơn giản vì quy luật này của cạnh tranh sinh tồn không thay đổi được và sẽ tiếp tục tồn tại. Song để có thể vô hiệu hóa nó, có một quy luật khác nước bên thứ ba nhất thiết phải nằm lòng: Không muốn làm đe, phải tìm mọi cách làm búa (Johann Wolfgang von Goethe) – theo tinh thần tự mình lựa chọn cuộc chơi trong tập hợp lực lượng tối ưu do mình tạo ra trên thế giới. Quốc gia nào cũng có những lợi thế riêng của mình cần vận dụng cho việc lựa chọn này. Và cũng xin đừng lúc nào quên: Mỹ cũng chỉ là một quốc gia không thể không có sai! Cũng không phải lúc nào lợi ích của Mỹ và của nước khác đều cùng một hướng!

(còn tiếp một kỳ)
Nguyễn Trung

Không có nhận xét nào: