Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không VIII? (Nguyễn Thị Từ Huy)

(tiếp theo số 224 và hết)


BÀI TRƯỚC chúng ta nói rằng, trong tình hình hiện nay cải cách là vấn đề sống còn của Việt Nam, vấn đề tồn tại hay không tồn tại, độc lập hay mất nước, cải cách đang là yêu cầu và là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, những ai quan tâm đến tương lai của Việt Nam đều thấy rõ điều này. Tuy nhiên, câu hỏi là : tầng lớp lãnh đạo của Việt Nam có nghĩ như vậy hay không, có nhìn thấy như vậy hay không, có hiểu được ý nghĩa sống còn của yêu cầu cải cách hay không ?

 Chắc không ít người sẽ phản ứng ngay bằng cách nói rằng: những dân thường như chúng ta còn nhìn ra được điều này thì lãnh đạo phải thấy rõ hơn chúng ta chứ.
Phản ứng này thì đúng thôi, nhưng thực tế chưa hẳn là như vậy.
Điều đáng buồn là: chưa chắc tầng lớp lãnh đạo đã nhìn thấy rằng thực tiễn đang đòi hỏi phải cải cách một cách triệt để và cấp bách.
Điều đáng buồn này từng là tiền lệ nhiều lần trong lịch sử của chúng ta. Hãy nhìn ngược lại quá khứ của cả dân tộc để thấy rằng, đã nhiều lần những người cầm quyền Việt Nam để mất nước, do không tự lực tự cường để trở nên hùng mạnh, nghĩa là không chịu phát triển sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự, do mất cảnh giác, ngủ quên trong say sưa và trong lạc thú cá nhân, do ỷ vào việc có sức mạnh thần thánh, chủ quan khinh địch…
Ta thử trở lại với thời kỳ lập quốc, để thấy rằng, Đại Việt sử ký toàn thư chép: «Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Hùng Vương nói: Ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất».
Thục An Dương Vương thôn tính Văn Lang, kết thúc triều đại của 18 đời Hùng Vương, phục dựng Âu Lạc, đánh thắng quân Tần, cho xây thành Cổ Loa nổi tiếng, nhưng rồi mắc đúng bệnh của Hùng Vương thứ 18, người đã bị ông ta đánh bại, mà để mất nước. Đó là bệnh say sưa ngủ quên trong chiến thắng, cậy có nỏ thần, mất cảnh giác với quân địch. Và cũng như Hùng Vương, Thục An Dương Vương chọn cách tự tử để giữ khí tiết. Âu Lạc thất thủ và các tộc người Việt bắt đầu một ngàn năm Bắc thuộc.
Dĩ nhiên trong một ngàn năm đó, người Việt không chịu khuất phục và đã tiến hành các cuộc nổi dậy, hết nhóm này đến nhóm kia chấp nhận thất bại cho đến khi Ngô Quyền giành được chiến thắng quyết định và bắt đầu thời kỳ độc lập ổn định cho Việt Nam. Tuy nhiên, trong một ngàn năm tiếp theo, các triều vua Việt Nam cũng đã nhiều lần để mất nước.
Tất nhiên, ở đây tôi không có ý định làm công việc tổng kết lịch sử. Nhắc lại lịch sử để dẫn tới điều này : nếu dám nhìn thẳng vào thực tế thì ta sẽ thấy rằng tầng lớp lãnh đạo của Việt Nam hiện nay đang mắc đúng các sai lầm của quá khứ, các sai lầm từng khiến cho Việt Nam mất độc lập.
Chẳng khó khăn gì để đưa ra các dẫn chứng. Quý vị đã nói hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Ở đây tôi chỉ đề cập hai điểm, hai sai lầm của lãnh đạo hiện nay, lặp lại các sai lầm trong lịch sử  đã dẫn Hùng Vương và An Dương Vương đến chỗ mất nước: say sưa chiến thắng và mất cảnh giác.
Các khẩu hiệu, các diễn văn của lãnh đạo, thậm chí các bài giảng của các môn thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn (sử, triết, văn, chính trị…) khiến cho chúng ta phải vô cùng kinh ngạc trước khả năng tự ca ngợi mình, tự say sưa trong chiến thắng của đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam. Chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm, và trong bốn mươi năm đó, đói nghèo và các tệ nạn xã hội chồng chất trong sự thất bại của quá trình giải quyết đói nghèo, song song là quá trình mất dần từng phần lãnh thổ và lãnh hải, cùng với sự băng hoại toàn diện của chế độ, tất cả những điều đó càng khiến cho bài ca chiến thắng cất lên mỗi lần một vang dội hơn, khiến cho màu đỏ chiến thắng càng lúc càng chói rực hơn trên phông màn của các phòng họp trong mỗi kỳ đại hội đảng. Cùng với bài ca thắng lợi là điệp khúc tự ca ngợi công lao của mình. Lãnh đạo đảng cộng sản luôn tự thấy đảng « đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác », đảng luôn tự thấy « Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao», « lịch sử đảng là cả một pho lịch sử vàng »… có thể liệt kê vô số những câu như vậy, nhiều như sao trên trời. Những lời tự ca ngợi này chưa bao giờ chấm dứt, bất chấp các thất bại và các vấn nạn trong thực tế. Những khẩu hiệu như trong tấm ảnh dưới đây (do tôi chụp tại Sài Gòn) chăng đầy các đường phố khắp các tỉnh thành ở Việt Nam, mỗi dịp đảng tiệc tùng tự chúc mừng ngày sinh nhật của mình.
Thái độ này của đảng cầm quyền hiện nay có khác gì thái độ của Hùng Vương 18 được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư: «Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị»? Hãy xem lại những hình ảnh về cuộc đối đầu giữa tàu của Trung Quốc và tàu của Việt Nam trên biển Đông để thấy thực lực của quân đội Việt Nam hiện đang thê thảm như thế nào.
Sai lầm thứ hai là mất cảnh giác. Hùng Vương 18 mất cảnh giác do tin rằng mình có « sức thần », tiếc là Đại Việt sử ký toàn thư không nói rõ cái sức mạnh thần thánh mà Hùng Vương dựa vào là gì. An Dương Vương mất cảnh giác vì quá kiêu ngạo về sức mạnh của nỏ thần, và ngây thơ đặt lòng tin tuyệt đối vào kẻ thù của mình, đến mức gả con gái, đưa giặc vào trong chính gia đình mình, đồng thời loại bỏ tướng tài của triều đình, Cao Lỗ, vì vị tướng này dám khuyên can vua không nên mắc mưu giặc.
Lãnh đạo Việt Nam hiện nay mất cảnh giác đến mức ký kết các hợp đồng đặt hầu hết những điểm xung yếu chiến lược của đất nước vào tay Trung Quốc. Ở đây quý vị độc giả có thể phản đối tôi bằng cách lập luận rằng không phải họ mất cảnh giác, mà là họ cố tình, họ thừa biết là nguy hiểm (nếu dân thường như chúng ta còn biết là nguy hiểm thì họ phải biết rõ hơn chúng ta) nhưng vẫn cố tình ký kết cho thuê, vì họ tham lợi cá nhân mà đặt an ninh quốc gia vào tình trạng nguy khốn. Nếu quý vị phản đối như vậy thì tôi cũng đành chấp nhận, không bác bỏ được. Chúng ta còn chưa biết được việc cho thuê dài hạn các vị trí địa lý quan yếu về chiến lược sẽ mang lại những hậu quả nào cho Việt Nam.
Lãnh đạo hiện nay mất cảnh giác đến mức bất chấp thực tế là Trung Quốc bành trướng, leo thang kiểm soát biển Đông, xâm phạm trực tiếp lãnh hải của Việt Nam, vẫn coi Trung Quốc là bạn tốt, và chấp nhận thiết lập những ràng buộc mà người dân không thể hiểu được lý do, ví dụ như việc lập đường dây nóng giữa quân đội hai nước.
Nếu An Dương Vương tin vào sức mạnh siêu nhiên của nỏ thần mà mất cảnh giác, thì đảng cầm quyền hiện nay tin vào cái gì để mất cảnh giác và để tin rằng mình có thể lãnh đạo thành công mọi cuộc cách mạng? Cái «nỏ thần» của đảng cộng sản Việt Nam chính là chủ nghĩa Marx-Lê nin và chủ nghĩa xã hội. Đảng cầm quyền đã và đang thần thánh hóa chủ nghĩa xã hội như là một sức mạnh siêu nhiên. Dù những người lãnh đạo có tin hay không thì họ cũng đang bắt cả dân tộc phải tin một cách vô điều kiện vào con đường chủ nghĩa xã hội, con đường mà chính họ cũng không biết sẽ dẫn tới đâu, không biết khi nào mới đến đích. Nhưng điều mà nhiều người dân đang thấy và đã nói ra từ lâu, là nó có thể dẫn Việt Nam tới chỗ trở thành một tỉnh của Trung Quốc.
Tóm lại, ở thời điểm này, giới cầm quyền ở Việt Nam đang bộc lộ đầy đủ những sai lầm của quá khứ, những sai lầm từng dẫn tới việc mất nước nhiều lần trong lịch sử.
Tạm kết thúc loạt bài này bằng cách tóm tắt lại một số ý sau đây:
Xét về đòi hỏi của thực tiễn, xét về yêu cầu bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước cũng như gìn giữ văn hóa và các giá trị đạo đức, các giá trị nhân văn của xã hội, cải cách phải trở thành một tất yếu, phát triển nội lực phải trở thành một tất yếu. Tình thế đòi hỏi phải cải cách. Trong tình trạng của Việt Nam hiện nay, không thể không cải cách, không thể không phát triển nội lực.
Tuy nhiên, xét trên thực tế lịch sử của Việt Nam trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, đã nhiều lần những người cầm quyền để cho nội lực của đất nước suy yếu, ngủ quên trong say sưa chiến thắng, mất cảnh giác, dẫn đến mất nước. Bi kịch lịch sử này hoàn toàn có thể lặp lại, nếu những người đang cầm quyền hiện nay không đủ sáng suốt và không đủ năng lực để tiến hành các biện pháp cần thiết và thực hiện một chương trình cải cách sâu, rộng và triệt để. Dĩ nhiên, trong bối cảnh hiện tại, có thể không lặp lại hình thức mất nước như trước đây, trong lịch sử, nhưng Việt Nam có thể trở thành một phiên thuộc kiểu mới của Trung Quốc, nhiều người cho rằng trên thực tế đã là như vậy.
Ở thời điểm này, các phân tích cho thấy, hai khả năng trên đây đều có thể xảy ra. Nhiều dấu hiệu chứng tỏ bộ máy lãnh đạo có mong muốn cải cách, có thể do không muốn bị xem là phải chịu trách nhiệm trong việc không bảo vệ được chủ quyền quốc gia. Nhưng cũng có vô số dấu hiệu chứng tỏ rằng các mong muốn cải cách chỉ là nửa vời, chỉ mang tính đối phó. Lợi ích cục bộ của đảng cầm quyền, và lợi ích cá nhân của các cán bộ lãnh đạo vẫn đang là ưu tiên số một, được đặt trên lợi ích quốc gia.
Thêm vào đó, một trong những nguyên nhân kìm hãm cải cách là : nhận thức của những người lãnh đạo không bắt kịp với trình độ phát triển của thế giới hiện nay, hoặc nói cách khác là nhận thức của họ dừng lại ở một trình độ rất lạc hậu, nhưng họ không tự biết. Điều quan trọng chính là ở chỗ họ không tự nhận biết thực tế này. Họ vẫn rất tự hào, như nửa thế kỷ trước đây họ đã tự hào rằng mình đứng ở đỉnh cao của nhân loại (tâm lý này Tố Hữu phản ánh trong câu thơ : « Chào 61 đỉnh cao muôn trượng). Chính là sự tự tin thái quá (hay đúng hơn là sự kiêu căng) này kìm hãm các khả năng cải cách, bởi nó khiến cho dàn lãnh đạo Việt Nam không có tinh thần học hỏi thực sự, không tiếp thu được các tiến bộ của nhân loại.
 Một lý do nữa cũng cần phải nhấn mạnh: năng lực lãnh đạo của toàn thể bộ máy cầm quyền bị hạn chế do phương thức tuyển dụng nhân sự đặt ưu tiên vào sự trung thành với đảng cầm quyền, coi đó như là phẩm chất hàng đầu. Chính ưu tiên này sẽ là nguyên nhân khiến cho những người có thực tài không thể đứng vào hàng ngũ lãnh đạo, nếu họ không chấp nhận lối sống hai mặt, và không chấp nhận tha hóa về nhân cách.
Đồng thời, do không ngăn chặn được việc tuyển dụng bị biến thành một hình thức mua bán chức vụ (hiện tượng này đặc biệt phát triển trong khoảng mười năm nay, dưới sự điều hành của chính phủ đương nhiệm) nên bộ máy lãnh đạo sẽ chỉ tuyển được những người đã tha hóa hoặc chấp nhận tha hóa về đạo đức. Hơn nữa nếu nhờ bỏ tiền ra hoặc nhờ quan hệ gia đình, họ hàng mà mua được vị trí lãnh đạo, thì dĩ nhiên, cách tuyển dụng này không dựa trên năng lực thực sự, và động lực làm việc của những người bỏ tiền mua ghế sẽ chỉ là làm sao thu lại được số tiền đã bỏ ra, và làm sao để có thật nhiều tiền cho bản thân mình. Nghĩa là trong đầu chỉ còn có lợi ích của bản thân mà thôi. Lô-gic này đã được phân tích nhiều, nhưng cho đến hiện nay chưa hề có các biện pháp để hạn chế hay loại bỏ việc này. Lý do có thể là vì đấy chính là chủ trương của những người điều hành chính phủ,là cách thức để họ tạo vây cánh. Với những cán bộ lãnh đạo thuộc loại này thì không thể hy vọng có cải cách, bởi vì cải cách đồng nghĩa với việc tự loại bỏ chính họ.
Xét trong bối cảnh tha hóa cùng cực về nhân cách, trong xã hội tham nhũng và mọi thứ đều có thể mua và bán, ở Việt Nam hiện nay, việc một người như ông Nguyễn Phú Trọng được chọn làm người đứng đầu hệ thống lãnh đạo phải chăng nên được xem là có những khía cạnh tích cực nhất định ? Bởi muốn chống tham nhũng, muốn chống lại các nhóm lợi ích, cần phải có một người lãnh đạo không tham nhũng và đứng ngoài các nhóm lợi ích.
Tuy nhiên, Tổng bí thư đang bị đặt trước nhiều hoài nghi. Và những hoài nghi đó không phải là không có cơ sở. Thậm chí hoàn toàn không sai khi nói rằng có rất nhiều căn cứ cho những hoài nghi của dân chúng. Đa số cho rằng ông cầm đầu phái thân Trung, ông quá sợ Trung Quốc và lệ thuộc Trung Quốc về mặt tư tưởng. Và những người này lo sợ rằng dưới sự cầm quyền của ông, Việt Nam sẽ rơi thẳng vào tay Trung Quốc. Nhiều người nhìn cuộc chiến quyền lực vừa qua của ông như là biểu hiện của sự tham nhũng quyền lực, và cho rằng tham nhũng quyền lực còn nguy hiểm hơn là tham nhũng tiền bạc. Thêm vào đó, các phát ngôn của ông thường gây thất vọng, ngay sau đại hội XII một số phát ngôn của ông đã gặp phải phản ứng mạnh của dư luận. Và sau đại hội, dù chưa thấy có thêm bắt bớ, nhưng đàn áp vẫn tiếp diễn, công nhân, dân oan và trí thức phản biện vẫn đang tiếp tục là nạn nhân của một chính quyền công an trị.
Chỉ có một số rất ít người nhìn vào sự liêm khiết về tiền bạc của ông mà đặt một hy vọng mong manh rằng ông có thể thực hiện các cải cách cần thiết. Trong số rất ít này có tôi, người viết bài này.
Cơ sở cho sự hy vọng của tôi đặt trên lập luận này: một người không tham nhũng, nghĩa là không bán mình vì tiền, người đó còn có tự trọng cá nhân ; một người còn tự trọng cá nhân sẽ còn ý thức về tự tôn dân tộc ; và vì cả hai lý do này, vì để giữ tự trọng cá nhân và tự tôn dân tộc mà sẽ sẵn sàng thay đổi nhận thức, và cải cách chính là kết quả của thay đổi nhận thức. Nếu không có sự thay đổi nhận thức ở tầng lớp lãnh đạo thì sẽ không có cải cách.
 Bản thân chữ « cải cách » bao hàm trong nó nét nghĩa « thay đổi ». Để có thể xây dựng các chính sách cải cách thì điều kiện tiên quyết là phải có sự thay đổi trong đầu, tức là trong tư duy của những người làm chính sách, những người lãnh đạo. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn ý thức rằng suy luận từ góc độ tâm lý học này của tôi, như mọi suy luận thuộc dạng khác, có thể sụp đổ trước thực tế.
Muốn có cải cách, điều kiện tiên quyết là TBT và hệ thống lãnh đạo phải thay đổi nhận thức và thay đổi quan điểm. Nếu không có sự thay đổi trong nhận thức của lãnh đạo, sẽ không có cải cách. Một lần nữa tôi nhấn mạnh điểm này.
Tổng bí thư sẽ sử dụng vị trí quyền lực mà ông đang có vào việc gì? Vào việc củng cố quyền lực của đảng, và của cá nhân ông, bất chấp các thiệt hại mà quốc gia và dân tộc phải chịu ? Hay ông sẽ sử dụng khoảng thời gian quý giá ít ỏi còn lại cho một người làm chính trị ở tuổi ông để tiến hành một chương trình cải cách sâu rộng và triệt để nhằm mang lại những lợi ích to lớn cho cả cộng đồng chung?
Ông đã có những bước đi mang tính lịch sử : là TBT đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam hội đàm với Tổng thống Mỹ. Đối với tôi, hành động này chứng tỏ một cách thuyết phục rằng TBT có khả năng thay đổi : từ chỗ lo sợ và lên án diễn biến hòa bình (vốn bị đảng xem là nằm trong âm mưu và kế hoạch của Mỹ), ông Trọng đã thực hiện một cách ngoạn mục một hành vi tự diễn biến táo bạo, ông đã tự diễn biến hòa bình một cách sâu sắc. Và điều này, trái với nỗi lo sợ lâu nay của giới bảo thủ trong đảng, đã và sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho bản thân ông và cho cả dân tộc. Tuy nhiên, vấn đề là : khả năng thay đổi của TBT chỉ dừng lại ở đó, hay ông còn có những hành động táo bạo khác?
Ông TBT, cho đến lúc này, đã và đang ghi tên mình vào lịch sử như một kẻ độc tài. Danh hiệu này dù ông có muốn hay không thì tổ chức Phóng viên không biên giới cũng đã dành cho ông, tên ông và chân dung của ông đã được đặt bên cạnh những kẻ độc tài tàn bạo nhất của thế giới đương đại, và họ có đầy đủ bằng chứng để làm như vậy. Tuy nhiên, trong thời gian tới, với vị trí đang có, ông cũng hoàn toàn có thể làm rạng danh tên tuổi của ông bằng cách đóng góp cho nhân dân thông qua các cải cách thể chế, các cải cách chính trị, nhằm đưa đất nước và dân tộc thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc và phát triển một cách xứng đáng. Nếu ông làm được như vậy, người dân Việt Nam sẽ đánh giá đúng công lao của ông, như người dân Nga đã đánh giá công lao của Gorbatchev.
 Ông Nguyễn Phú Trọng sẽ chọn điều gì?
Ở thời điểm này, tất cả chỉ đều đang là câu hỏi.
Nhưng câu trả lời sẽ đến nhanh thôi. Và chẳng ai trả lời thay TBT được. Chính TBT sẽ cho chúng ta biết ông quyết định lựa chọn điều gì.
Cải cách chính trị ở Việt Nam có thực hiện được hay không, một phần phụ thuộc vào sự lựa chọn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong trường hợp ông có thực quyền.
Trong trường hợp TBT không nắm thực quyền, cải cách chính trị ở Việt Nam sẽ phụ thuộc một phần quan trọng vào Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất tác động tới sự chuyển động của cơ chế chính trị để dẫn tới các cải cách căn bản, đó là: áp lực từ bên dưới của dân chúng, áp lực đòi cải cách của xã hội. Từ « xã hội » ở đây có nghĩa là: các cá nhân trong xã hội, nghĩa là tất cả mọi người. Nếu thiếu áp lực này, hoặc nếu áp lực này không đủ mạnh, thì bộ máy lãnh đạo hiện tại (vốn đã quá trì trệ, quá ì ạch, quá tham nhũng, với hệ hình tư duy lạc hậu, đồng thời lại quá tự mãn về những thắng lợi trong quá khứ, mất cảnh giác, thiếu khả năng đối diện với thực tế, với sự thật) sẽ không có đủ động lực để cải cách. Nếu mỗi người (cũng có nghĩa là mọi người) còn có lý do để chấp nhận cơ chế chính trị này, thì nó vẫn sẽ tồn tại, và đảng sẽ không có nhu cầu cải cách. Dĩ nhiên, vấn đề này cần được bàn kỹ hơn và thấu đáo hơn.

Nguyễn Thị Từ Huy

Không có nhận xét nào: