Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không (VI)? (Nguyễn Thị Từ Huy)


GIỜ ĐÂY chúng ta đã có đủ thời gian và đủ cứ liệu thực tế để thấy rằng trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam, không tồn tại một cách tách bạch phe cải cách và phe bảo thủ, cũng không tồn tại một cách rõ ràng phe thân Tàu và phe thân Mỹ, như một số người nào đó cố tình ra sức làm cho chúng ta nhầm tưởng (cần phân biệt giữa một số - có thể là rất ít - những người cố tình tạo ra sự hiểu nhầm này, và số đông những người vô tình hiểu nhầm do thiếu thông tin).

Có lẽ sẽ dễ chấp nhận hơn nếu chia rẽ trong nội bộ lãnh đạo cao cấp được nhìn từ góc độ : phe chính phủ và phe đảng (dựa trên cuộc đối đầu công khai một cách bí mật giữa người đứng đầu chính phủ và người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam), hoặc nếu dựa vào một tiêu chí khác thì có thể nói rằng có hai phe : phe ủng hộ tham nhũng và phe chống tham nhũng.
Sau đây là một vài dẫn chứng để chứng minh nhận định trên.
Xét trên tiêu chí « thân Trung », ta sẽ thấy : nếu phe đảng lệ thuộc vào Trung Quốc về phương diện tư tưởng, thì phe chính phủ lệ thuộc vào Trung Quốc về phương diện kinh tế. Sự lệ thuộc nào nguy hiểm hơn còn tùy vào quan điểm và đánh giá của mỗi người, dựa trên các phân tích và sự thừa nhận hay hình dung về hậu quả đã có và sẽ có.
Xét trên tiêu chí « thân Mỹ », ta sẽ thấy : phe chính phủ thân Mỹ bằng cách gả con cái cho người Mỹ gốc Việt. Ví dụ này được đưa ra dựa trên việc dư luận từng hết lời ca ngợi cuộc hôn nhân của con gái thủ tướng với một người Mỹ gốc Việt, như một phản ứng chống lại sự cáo buộc lẩm cẩm của ba vị giáo sư xã hội chủ nghĩa, đảng viên gộc ; phản ứng này mạnh đến mức khiến người ta quên mất rằng điều quan trọng nhất trong bức thư thanh minh của con gái thủ tướng là việc bà khẳng định rằng mình là đảng viên, với một thông điệp rõ ràng : bà là đảng viên nên sẽ không bao giờ phản bội đảng, các giáo sư và đảng cứ yên tâm mà tin tưởng ở bà. Ngoài ra còn có thể lấy những ví dụ khác : phe chính phủ đặt hàng cho các học giả Hoa Kỳ làm các nghiên cứu (tôi có thể đưa ví dụ trong lĩnh vực giáo dục) hay nhờ Tony Blair làm tư vấn. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu hay các tư vấn dường như không được áp dụng vào việc điều hành chính phủ, có thể vì thế mà khiến cho chính phủ đương nhiệm trở thành chính phủ bê bối nhất từ trước đến nay, và có thể khiến cho người ta nghĩ rằng, việc nhờ tư vấn hay đặt hàng nghiên cứu cũng chẳng qua chỉ là một cái cớ để kiếm chác, như mọi dự án ở Việt Nam. Về phía phe đảng, cũng có sự xúc tiến những bước tiếp cận với chính quyền Mỹ (Tổng bí thư công du Hoa Kỳ, vận động để quân đội và hải quân Việt Nam có thể mua vũ khí của Mỹ. Chúng ta cũng đừng quên rằng TBT là Bí thư Quân ủy Trung ương).
Xét trên tiêu chí « cải cách » thì có thể thấy : phe chính phủ của thủ tướng đương nhiệm gần như đã hủy hoại hết mọi thành tựu cải cách của các đời thủ tướng trước đó. Kinh tế Việt Nam trước đây có sự cân bằng trong hợp tác với Phương Tây và Trung Quốc. Và chính là nhờ hợp tác với Phương Tây, mà trong thời kỳ Đổi Mới, đã có lúc giới quan sát Phương Tây hy vọng rằng Việt Nam sẽ hóa rồng như Singapore, Hàn Quốc hay Nhật Bản. Mười năm qua, rồng đã hoàn toàn bị làm cho gãy cánh. Dưới sự điều hành của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, kinh tế Việt Nam bị đẩy hẳn vào vòng kìm kẹp của Trung Quốc, tiềm ẩn vô số rủi ro và nguy cơ, do tham nhũng bị đẩy lên thành quốc nạn, và do các tiêu chí minh bạch về kinh tế không những bị vi phạm mà những khuất tất về tài chính còn bị biến thành bí mật quốc gia, nghĩa là các vi phạm tài chính sẽ được bảo vệ như là bí mật quốc gia. Kèm theo đó là nợ công chồng chất. Xin xem thêm bài báo của Phạm Chí Dũng, « Nhập siêu từ Trung Quốc tiếp tục tăng vọt: Những quan chức nào ‘làm thuê’ cho Bắc Kinh? », để thấy rằng con số nhập siêu từ Trung Quốc năm 2015 tăng gấp 300 lần so với năm 2002.
Phe đảng cũng nỗ lực « cải cách chính trị » trong những năm qua bằng các thành tích đưa xã hội trở lại thời Nhân văn Giai phẩm với các vụ thanh trừng một cách có hệ thống, ở giới đại học (Nhã Thuyên), giới báo chí (Đỗ Hùng), giới luật sư (Nguyễn Đăng Trừng…). Ngoài ra dường như phe đảng còn định thiết lập lại cả hình thức tòa án nhân dân thời cải cách ruộng đất, đại diện là nhân vật nổi tiếng trong giới dư luận viên giang hồ : Trần Nhật Quang.
Vậy nên, sẽ không chính xác khi cho rằng có sự phân biệt tách bạch, rõ ràng giữa hai phe « thân Mỹ » và « thân Tàu », hoặc « cải cách » và « bảo thủ ». Tuy nhiên, cũng sẽ không chính xác nếu dựa vào việc TBT không tham nhũng và chủ trương chống tham nhũng để chia bộ máy lãnh đạo thành hai phe : chống tham nhũng và ủng hộ tham nhũng. Thực tế cho chúng ta thấy rằng nếu ngày hôm qua đa số lãnh đạo cao cấp ở Trung Ương đã ủng hộ người đứng đầu một chính phủ tham nhũng, thì cũng chính những lãnh đạo đó, trong một khoảng thời gian ngắn, có thể quay lưng lại với người mà mình đã từng ủng hộ. Như vậy, việc họ lựa chọn ủng hộ hay không ủng hộ một cá nhân nào đó trong bộ máy tham nhũng, không có nghĩa là họ muốn chống lại tham nhũng. (Nhân tiện xin mở một ngoặc đơn để nhắc lại rằng, nếu ở đại hội XII vừa rồi, họ lựa chọn ủng hộ Tổng bí thư, thì điều đó không đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục ủng hộ TBT một cách chung thủy. TBT và tất cả mọi người còn nhớ rằng đầu năm 2015, chính Thủ tướng mới là người được tín nhiệm gần như tuyệt đối. Chỉ trong vòng một năm thôi mọi thứ đều bị lật ngược. Hoặc cũng có thể nói, chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ Hội nghị 13 đến Hội nghị 14, mọi thứ đã bị lật ngược. Do đó, điều khó hiểu trên sân khấu chính trị Việt Nam là : dân chúng không biết được các tiêu chí nào khiến cho các lãnh đạo được chọn, được tín nhiệm, và không biết được tiêu chí nào khiến cho các lãnh đạo bị loại bỏ). Vì thế, cho đến lúc này ở Việt Nam không tồn tại cái gọi là « phe chống tham nhũng ». Còn về sau như thế nào, thì chúng ta không thể nói trước được.
Thực ra, cũng không chính xác khi nhìn nhận rằng có phe đảng và phe chính phủ. Bởi vì tất cả những người giữ các vị trí cấp cao của chính phủ hiện nay đều phải là đảng viên, tức đều là người của đảng. Như vậy cái gọi là "phe" thực sự rất không có cơ sở.
Những phân tích trên đây nhằm đặt lại vấn đề về khái niệm « phe » trong hệ thống lãnh đạo Việt Nam. Cần thận trọng khi dùng từ «phe », bởi nó có thể không trùng hợp với thực tế. Có lẽ « nhóm lợi ích » là cụm từ chính xác hơn. « Phe » thường dùng để chỉ những liên kết mang tính ổn định, tương đối lâu dài. « Nhóm lợi ích » hình thành trong những điều kiện lợi ích nhất định, nên lỏng lẻo hơn, và có thể tan rã bất cứ lúc nào.
Bàn đến vấn đề « phe », bởi nó liên quan đến câu hỏi : Việt Nam có thể cải cách chính trị hay không ?
Nếu như đã không tồn tại phe cải cách và phe bảo thủ, không tồn tại phe thân Tàu và phe thân Mỹ…, thì công cuộc cải cách ở Việt Nam sẽ không phụ thuộc quá lớn vào việc nhân sự nào ra đi, nhân sự nào ở lại.

Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không (VII)?

Đã đến lúc phải đi vào trọng tâm của câu hỏi: Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không ?
Hiện có hai quan điểm rất khác nhau về vấn đề này.
Một số người (chẳng hạn như ông Lê Đăng Doanh, từng ở trong Ban tư vấn cho chính phủ Võ Văn Kiệt, vị Thủ tướng đã có nhiều đóng góp cho Việt Nam thời kỳ đổi mới, ông Nguyễn Quang A, người vận động cho dân chủ hóa ở Việt Nam) cho rằng tình thế cấp bách và nguy nan hiện nay bắt buộc lãnh đạo Việt Nam phải cải cách, ai đứng ở vị trí lãnh đạo cũng phải cải cách. Cũng trong khuynh hướng này, nhưng từ một góc độ khác, cựu dân biểu Đặng Hoàng Yến đặt hy vọng vào việc, sau khi không còn lực cản nữa, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể thực hiện những cải cách thực sự, những cải cách mà bà cho là TBT dù muốn cũng đã không thể làm được trong những năm vừa qua.
Một số người khác, dựa trên quan điểm để có thể cải cách cần có sự tách bạch giữa nhà nước và đảng, cho rằng trong tương lai gần, tức là khoảng 5 năm tới đây, sẽ không có cải cách gì đặc biệt về chính trị.
Chúng ta thử xét vấn đề theo cả hai khuynh hướng trên đây, để xem kết quả cho ra sẽ là gì.
Không thể không cải cách
Những người như ông Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A, có lý ở chỗ: ở thời điểm này, với tất cả những gì mà Trung Quốc đang làm trên Biển Đông và trên đất liền (nhất là trên đất liền, lãnh thổ Việt Nam, ở mọi phương diện), thì cải cách là một đòi hỏi của thực tiễn, một yêu cầu của thực tiễn. Cải cách trở thành vấn đề sống còn, vấn đề tồn tại hay không tồn tại, độc lập hay mất nước… Do vậy, nói rằng « ai đứng ở vị trí lãnh đạo cũng phải tiến hành cải cách » là dựa trên yêu cầu sống còn này của thực tiễn. Những ai dám đối diện với thực tế, dám nhìn thẳng vào các nguy cơ khiến Việt Nam đang bị đẩy đến bên bờ vực thẳm, đều thấy rằng không thể không cải cách. Muốn thoát Trung tất yếu phải cải cách.
Bây giờ ta sẽ tìm hiểu xem cái lý của các ông Lê Đăng Doanh, Nguyễn Quang A... có được thể hiện trong thực tế hay không.
Đã có nhiều phân tích, nhận định về đại hội XII. Ở đây tôi đưa ra thêm một nhận định, một giả định, mà tôi không thể đảm bảo về sự chính xác, hay nói cách khác, cần thời gian để kiểm chứng giả định này, nó có thể được khẳng định, cũng có thể bị sụp đổ. Giả định của tôi là : Đại hội XII có thể là một nỗ lực thoát Trung của bộ máy lãnh đạo Việt Nam.
Ngay sau đại hội XII đã có một vài chi tiết, đã được giới phân tích bàn đến, ở đây tôi chỉ nhắc lại, như là dẫn chứng cho giả định trên đây của tôi.
Cử chỉ mạnh mẽ của người phát ngôn bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cùng với lời khẳng định rằng Việt Nam tôn trọng quyền đi qua vô hại của tàu Mỹ, trong khi Trung Quốc cực lực phản đối chính động thái này của Hoa Kỳ.
Ông Đinh La Thăng, trước khi rời chức Bộ trưởng BGTVT để về làm Bí thư Tp. HCM, đã cho cách chức một quan chức dưới quyền của ông, vì người này đề xuất mua các toa tàu cũ của Trung Quốc. Điều đáng nói là một việc tương tự chưa từng xảy ra, hoặc nói theo kiểu lãnh đạo, là "chưa có tiền lệ".
Và gần đây nhất, Tổng thống Mỹ Obama nhận lời mời thăm chính thức Việt Nam vào tháng 5 tới. Hẳn chúng ta chưa quên rằng ông Obama đã không sang Việt Nam vào tháng 11 năm ngoái như dự định, thay vào đó là chuyến viếng thăm của Chủ tịch Trung Quốc đã gây ra nhiều phẫn nộ trong dân chúng. Nếu ông Obama thực hiện chuyến công du này thì đây sẽ là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ đương nhiệm đến thăm Việt Nam, kể từ khi quan hệ ngoại giao hai nước được thiết lập (Ông Clinton từng tới Việt Nam, nhưng chỉ sau khi đã kết thúc nhiệm kỳ). Dĩ nhiên, không thể phủ nhận tầm quan trọng của sự kiện ngoại giao này, nếu nó xảy ra như dự định. Và rất nhiều khả năng nó sẽ kéo theo những sự phát triển đáng kể trong hợp tác Việt-Mỹ.
Mới chỉ cách đây ít hôm, hải quân Việt Nam và Nhật Bản đã tập trận chung trên Biển Đông, nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước, và kết thúc tại Đà Nẵng, ngày 18/2/2016.
Đó là một vài động thái cụ thể của việc thoát Trung, diễn ra sau khi Tổng bí thư tái đắc cử, trong một thời gian tương đối ngắn, chưa đầy một tháng. Liệu những động thái này có phải là biểu hiện của một kế hoạch lâu dài và nhất quán hay không ? Nếu thực sự có một kế hoạch dài hạn trong vấn đề thoát Trung thì chính kế hoạch này sẽ đòi hỏi các cải cách cần thiết để có thể được thực hiện. Hiện nay chúng ta chưa thể khẳng định bất cứ điều gì. Thời gian và hành động của hệ thống lãnh đạo sẽ trả lời.
Hiện nay, mặc dù Tổng bí thư đã được bầu lại, nhưng chính phủ đang điều hành công việc ở Việt Nam vẫn là chính phủ cũ. Như chúng ta đã chứng kiến, đại hội XII khiến cho sự chia rẽ giữa người lãnh đạo cao nhất của đảng và người lãnh đạo cao nhất của chính phủ vốn đã sâu sắc lại càng sâu sắc hơn bao giờ hết. Trong tình hình như vậy, rất khó đánh giá và nhận định bản chất của những gì đang diễn ra ở Việt Nam trong giai đoạn cụ thể này. Cần phải chờ cho đến khi chính phủ đương nhiệm thôi điều hành công việc và chính phủ mới chính thức nhận trách nhiệm.
(Còn tiếp)

Nguyễn Thị Từ Huy

Không có nhận xét nào: