Bầu cử kiểu gì khi tệ ngay từ luật (Hoàng Xuân Phú)

(tiếp theo số 224)

VÌ LÝ DO thời sự, nhằm khẳng định căn nguyên từ luật sẽ gây ra ảnh hưởng xấu tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và các kỳ bầu cử tiếp theo, ta sẽ xem xét Luật BCĐBQH 2015. Phòng ngừa ngụy biện, rằng luật mới thông qua giữa năm 2015 không thể ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử trước đó, ta sẽ chỉ ra rằng những căn nguyên ấy cũng đã tồn tại trong Luật BCĐBQH 1997, được Quốc hội khóa IX thông qua năm 1997, được Quốc hội khóa X sửa đổi năm 2001 bởi Luật số 31/2001/QH10 và được Quốc hội khóa XII sửa đổi năm 2010 bởi Luật số 63/2010/QH12.

Sẽ quá dài nếu phân tích tất thảy mọi điều phi lý, nên ta chỉ tập trung vào mấy điều khoản vi hiến của Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015. Và để chứng tỏ tính vi hiến, ta cũng chỉ tham chiếu một điều khoản trong Hiến pháp, đó là:
"Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín."
Nội dung này đã được hiến định tại Điều 7 Hiến pháp 1992 và được tiếp tục duy trì tại Điều 7 Hiến pháp 2013. Cho nên, nếu điều khoản nào của Luật BCĐBQH 1997 hay Luật BCĐBQH 2015 vi phạm một trong bốn nguyên tắc trên, thì nó vi hiến so với cả Hiến pháp trước đây lẫn Hiến pháp hiện hành.
3.1. Kín... tênh hênh
Đầu tiên ta thảo luận về nguyên tắc cuối cùng, đó là "bỏ phiếu kín". Vì sao? Bởi đó là nguyên tắc mà nhà cầm quyền dễ chấp nhận nhất và cũng dễ thực hiện nhất. Thành thử, nếu nguyên tắc đơn giản ấy mà còn bị phớt lờ, thì đừng ngạc nhiên về số phận của ba nguyên tắc kia. Câu hỏi then chốt là: Phải làm sao để đảm bảo nguyên tắc "bỏ phiếu kín" và ai có trách nhiệm thực thi?
Điều 60 Luật BCĐBQH 1997 quy định rằng: "Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được đến xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử." Câu này được nhắc lại nguyên văn tại Khoản 5, Điều 69 của Luật BCĐBQH 2015. Ngoài nó ra, không còn tồn tại điều khoản luật định nào khác liên quan đến nguyên tắc "bỏ phiếu kín".
Đọc qua thì tưởng là rất hợp lý, song nghĩ kỹ lại thấy quy định ấy chứa những nét hài hước. Khi nhiều cử tri phải cùng chụm đầu quanh một cái bàn nhỏ để viết phiếu, hay phải đứng sau lưng người đang viết phiếu để đợi đến lượt mình, thì chỉ còn nước nhắm mắt mới đảm bảo chẳng nhìn thấy lá phiếu của người khác. Hơn nữa, không chỉ người đang đứng gần, mà cả người đứng từ xa cũng dễ dàng quan sát trạng thái lá phiếu, thậm chí có thể dùng cả camera để ghi lại toàn bộ quá trình cử tri viết phiếu, khi bàn để viết phiếu được đặt tênh hênh giữa phòng, không hề được che chắn. Vậy thì cần gì phải mất công "đến" mà "xem"? Cứ như thể ép bao người phải tụ họp trong trạng thái khỏa thân, rồi quy định rằng không ai được nhìn vào vùng kín... tênh hênh của người khác, nhằm chứng tỏ phía tổ chức rất tôn trọng bí mật riêng tư.
Giữ bí mật nội dung lá phiếu của bản thân là quyền, chứ không phải là trách nhiệm của cử tri. Vì vậy, chẳng lạ nếu cử tri nào đó không có nhu cầu giữ bí mật, mà ngược lại còn muốn khoe với người thân hay bạn bè, rằng mình bầu ai gạch ai. Khi đó, chỉ cần nghe đã biết, thì cấm "xem" phỏng có ích gì? Cũng thường tình nếu cử tri đem theo con nhỏ tới nơi bỏ phiếu. Hiển nhiên, bố mẹ đi đâu thì đứa trẻ cũng "đến" đó, và khi bố mẹ viết phiếu bầu thì đứa trẻ cũng có thể "xem", cho dù đã biết đọc hay chưa. Vậy thì tại sao luật lại áp đặt "không ai được đến xem" cả trong những hoàn cảnh như vậy?
Kiểu quy định trách nhiệm đơn phương "không ai được đến xem" lặp lại một lối tư duy đặc trưng của giới cầm quyền tự nhận là "đầy tớ của dân". Đó là lẩn tránh trách nhiệm của chính quyền và đổ dồn trách nhiệm lên phía người dân. Một ví dụ điển hình của kiểu tư duy này là chuyện xử phạt mũ bảo hiểm xe máy. Lẽ ra, chính quyền có tránh nhiệm kiểm soát và quản lý thị trường, sao cho mũ bảo hiểu không đảm bảo chất lượng không được bày bán ở cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam. Và nếu người dân mua phải mũ "rởm", thì họ có quyền kiện và yêu cầu chính quyền phải bồi thường. Song chính quyền lại để mặc cho mũ "rởm" được công khai bày bán nơi nơi, rồi quy định xử phạt những người mua phải mũ "rởm". Tương tự như vậy, lẽ ra Quốc hội phải quy định trong Luật BCĐBQH, rằng các cơ quan tổ chức bầu cử phải thiết lập nơi bầu cử sao cho người khác không thể đọc được phiếu bầu của cử tri. Song Quốc hội lại bỏ qua trách nhiệm đó, mà luật định rằng người khác không được đọc, và thản nhiên như thể đã làm tròn nhiệm vụ lập pháp.
Để người khác không đọc được phiếu bầu của cử tri, thì Luật bầu cử cần và chỉ cần quy định hết sức đơn giản. Chẳng hạn, Luật bầu cử của CHLB Đức quy định tại Điều 33 như sau:
"Phải tiến hành các biện pháp phòng ngừa sao cho cử tri có thể điền và gấp phiếu bầu mà không bị quan sát."
Đó là trách nhiệm của cơ quan tổ chức bầu cử. Còn đối với phía cử tri, để đảm bảo bí mật nội dung lá phiếu, Luật bầu cử của CHLB Đức hướng dẫn tại Điều 34 như sau:
"Sau đó cử tri gấp lá phiếu, sao cho người khác không thể nhận biết ý kiến bầu cử của mình, và bỏ vào thùng phiếu."
Rõ ràng, nếu đã đảm bảo "cử tri có thể điền và gấp phiếu bầu mà không bị quan sát" thì chẳng cần phải quy định thêm "không ai được đến xem". Ngược lại, nếu cử tri "bị quan sát" (từ xa, bằng mắt hay thông qua camera) lúc đang điền phiếu bầu, thì dù "không ai được đến xem" cũng chẳng giữ nổi bí mật nội dung lá phiếu. Hơn nữa, dù không bị quan sát lúc viết phiếu, nhưng nếu cử tri không gấp phiếu cẩn thận, mà cầm trên tay lá phiếu mở lộ nội dung và đi từ nơi viết phiếu đến thùng phiếu, rồi bỏ nó vào thùng phiếu có vách trong suốt, thì mọi biện pháp bảo mật tại nơi viết phiếu đều là vô ích. Và lúc đó, cử tri không thể đổ lỗi cho phía tổ chức bầu cử hay những người khác.
Trên thực tế, có thể dễ dàng thiết lập những khoang bầu cử, để từng cử tri có thể tới đó viết phiếu bầu một cách kín đáo (xem Phụ lục 1).
Về lý mà nói, Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 không cấm các khu vực bầu cử thiết lập khoang bầu cử. Nếu có đủ khả năng tư duy và có đủ tinh thần trách nhiệm (trước cử tri và Hiến pháp), thì những người tổ chức bầu cử vẫn có thể chủ động nghĩ ra và tiến hành các biện pháp che chắn cần thiết nhằm đảm bảo bí mật khi cử tri viết "phiếu kín". Nhưng tiếc thay, sau mấy mươi năm sống dưới chế độ "do Nhân dân làm chủ", các chủ nhân đã bị thụ động hóa tột cùng, đến mức chỉ còn hành động như những rô-bốt, chỉ có thể làm và chỉ dám làm theo lập trình của đấng bề trên. (Phải chăng, đó chính là chủ đích và bí quyết cai trị của giới cầm quyền?) Hệ quả là, dù Hiến pháp đã quy định rõ ràng vẫn chưa dám thực hiện và cũng chưa được phép thực hiện, mà còn phải đợi Quốc hội ban hành luật. Và dù có luật rồi thì vẫn phải tiếp tục đợi nghị định, thông tư… hướng dẫn. Vậy thì làm sao có thể trông chờ các rô-bốt tổ chức bầu cử dám chủ động nghĩ ra biện pháp để thực thi bầu cử theo đúng tinh thần của Hiến pháp?
Cho nên, trong hoàn cảnh xã hội bị rô-bốt hóa triệt để, cơ quan lập pháp có trách nhiệm ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có thể diễn ra một cách hợp hiến, tức là đáp ứng đầy đủ bốn nguyên tắc hiến định. Ít nhất, chính Quốc hội phải quy định cụ thể trong Luật BCĐBQH nội dung bộ máy tổ chức bầu cử "phải tiến hành các biện pháp phòng ngừa sao cho cử tri có thể điền và gấp phiếu bầu mà không bị quan sát". Không thể phó mặc cho bộ máy hành pháp, lúc thì quy định lúc thì không. Cũng không thể bắt các cấp thực thi phải mày mò tìm kiếm, xem có văn bản hướng dẫn nào đã được ban hành trong quá khứ nhưng vẫn còn hiệu lực, rồi xem có văn bản hướng dẫn nào mới được sinh ra, và còn phải phân vân với câu hỏi: Văn bản mới đã đề cập đầy đủ mọi điều cần thiết chưa, hay vẫn phải bổ sung thêm một số nội dung từ văn bản cũ (xem Phụ lục 2)?
Vì lẽ đó, việc Quốc hội không quy định trong Luật BCĐBQH yêu cầu phải triển khai biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo nguyên tắc "bỏ phiếu kín" có thể coi là một hành vi vi phạm Hiến pháp. Đặc biệt, một khi đã viết rõ trong phần mở đầu của Luật BCĐBQH 1997, rằng "Luật này quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội", mà vẫn không quy định phải triển khai biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo nguyên tắc "bỏ phiếu kín", thì càng có thể coi là vi hiến.
Cử tri đã phải chịu cảnh bầu cử kín... tênh hênh suốt bẩy thập kỷ, vậy mà Quốc hội vẫn không nhận ra điều bất cập, và sau năm lần thay đổi Luật bầu cử vẫn không bổ sung quy định cụ thể để khắc phục. Điều đó chứng tỏ hạn chế về trình độ lập pháp của Quốc hội, chứ không thể đổ hết trách nhiệm cho các cơ quan hành pháp và các cấp thực thi.
3.2. Trực tiếp... ngây ngô
Để thể hiện nguyên tắc "bầu cử trực tiếp", Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 quy định như sau:
"Cử tri phải tự mình đi bầu, không được bầu bằng cách gửi thư, trừ những trường hợp quy định tại Điều 59 của Luật này."
Và nội dung Điều 59 là:
"Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu."
"Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu."
Các nội dung trên cũng được đưa vào Điều 69 của Luật BCĐBQH 2015, song bỏ đi mệnh đề "không được bầu bằng cách gửi thư". Đặc biệt, nội dung thứ hai trong Điều 59 của Luật BCĐBQH 1997 được mở rộng như sau:
"4. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử."
Nghĩa là bổ sung thêm yêu cầu "Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến… chỗ điều trị của cử tri" và "đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc". Chu đáo đến thế là cùng, phải không?
Tiếc rằng, chu đáo kiểu ấy thì ngây ngô, vì không khả thi. Chỗ điều trị của các cử tri đang đau ốm có thể rất phân tán, ở nhiều bệnh viện khác nhau và có thể ở xa cả ngàn km. Vậy thì bắt buộc "Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến…" tất cả các "chỗ điều trị" đó hay sao? Tương tự, cử tri có thể bị tạm giam hay đưa vào cơ sở giáo dục hoặc cai nghiện ở nhiều địa điểm khác nhau. Hơn nữa, để tăng cường "tác dụng giáo dục" đối với cả đương sự lẫn người nhà, nơi giam giữ thường được bố trí tại những nơi "khỉ ho cò gáy" cách rất xa nơi cư trú của đương sự. Vậy Tổ bầu cử buộc phải bươn trải viếng thăm một loạt trại giam xa xôi hẻo lánh, rải khắp đất nước, hay sao?
Nguyên nhân khiến bộ máy tổ chức bầu cử phải lang thang lưu lạc đó đây là các nhà lập pháp đã hiểu sai lệch nguyên tắc "bầu cử trực tiếp". Họ đinh ninh rằng đã "bầu cử trực tiếp" thì "cử tri phải tự mình đi bầu", tức là bản thân cử tri phải đến phòng bỏ phiếu, rồi tự tay viết phiếu và bỏ vào thùng phiếu. Đương nhiên, không phải cử tri nào cũng có thể tự tay viết phiếu và bỏ vào thùng. Vậy là buộc phải chấp nhận ngoại lệ, cho phép người khác viết hộ phiếu hay bỏ hộ phiếu vào thùng. Chưa đủ, còn có những cử tri bị đau ốm, không thể đến phòng bỏ phiếu. Vậy là quy định Tổ bầu cử mang hòm phiếu và phiếu bầu đến tận nhà. Song lại có những người bệnh không nằm điều trị ở nhà. Thế thì Tổ bầu cử phải tới cả bệnh viện...
Cứ thế, chuỗi ngoại lệ cứ dài dần, song không bao giờ đủ. Giống như cảnh dùng vải mục may quần, rồi cố gắng vá víu cho kín mọi bề, nhưng càng vá thì càng rách, và dù cố đến đâu thì cuối cùng cũng chỉ thu được kết quả kín đáo kiểu đóng khố mà thôi. Đáng nói là bế tắc nảy sinh ngày càng nhiều và càng khó xử lý hơn, thậm chí không thể xử lý được. Ví dụ: Nếu công dân đang điều trị tại một bệnh viện ở nước ngoài (giống như trường hợp Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh điều trị ở Pháp) thì Tổ bầu cử sẽ làm sao? Tất nhiên là… tịt.
Quá trình vá víu bất tận và vô vọng kể trên sẽ dễ dàng biến mất, nếu chấp nhận thực hiện hình thức "bầu bằng cách gửi thư". Song Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 lại quy định thẳng thừng, rằng "không được bầu bằng cách gửi thư". Tuy Luật BCĐBQH 2015 không nhắc lại mệnh đề cấm đoán ấy, nhưng nó cũng không đưa ra bất cứ cơ chế hay biểu hiện nào cho phép "bầu bằng cách gửi thư", nghĩa là vẫn không được thực hiện. Tại sao lại nhất quyết là không? Nếu chấp nhận cho những cử tri đau ốm hay tàn tật được nhờ người khác bỏ hộ phiếu vào thùng, thì tại sao lại không chấp nhận cho những công dân ở xa nhờ bưu điện làm hộ việc đó? Vì nhân viên bưu điện không đáng tin cậy ư? Tại sao có thể tin tưởng vào đạo đức và nghiệp vụ của mấy vị nghiệp dư, năm năm mới tham gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội một lần; nhưng lại không thể tin tưởng bộ máy bưu điện chuyên nghiệp, vốn thường xuyên phải nghiêm ngặt tuân thủ quy định pháp luật về bí mật thư tín?
Cần nhấn mạnh rằng: Hình thức "bầu bằng cách gửi thư" hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc "bầu cử trực tiếp". Chính vì vậy, một số nước, chẳng hạn như CHLB Đức, vừa luật định nguyên tắc "bầu cử trực tiếp", vừa luật định hình thức "bầu bằng cách gửi thư". Gần đây, trong cuộc bầu cử Quốc hội CHLB Đức năm 2013, có tới 10.758.677 cử tri (chiếm 24,3%) sử dụng hình thức "bầu bằng cách gửi thư". Cho nên, nếu dựa vào nguyên tắc "bầu cử trực tiếp" để khước từ hình thức "bầu bằng cách gửi thư" thì quả là ngây ngô.
3.3. Trực tiếp... với hư vô
Bầu cử là một thể hiện dân chủ, nhưng chưa chắc đã là dân chủ tuyệt đối, thậm chí có thể chỉ là dân chủ nửa vời, hay dân chủ giả tạo.
Để đảm bảo độ "an toàn" (theo một nghĩa tử tế hay tệ hại nào đó), phía tổ chức bầu cử có thể tiến hành bầu cử qua một hay mấy bước trung gian. Ví dụ, ở Mỹ cử tri bình thường chỉ có thể tham gia trực tiếp bầu ra Hội đồng các đại cử tri (Electoral College), rồi các đại cử tri thuộc Hội đồng ấy mới bầu ra Tổng thống. Nghĩa là công dân Mỹ chỉ bầu Tổng thống một cách gián tiếp thông qua các đại cử tri. Ở Việt Nam, đảng viên ĐCSVN họp chi bộ để bầu ra đại biểu đi dự đại hội đảng bộ trực thuộc, đại hội cấp hai ấy lại bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp quận huyện, đại hội cấp ba bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp tỉnh thành, rồi đại hội cấp bốn mới bầu ra đại biểu đi dự đại hội cấp toàn quốc. Cuối cùng thì đại hội cấp toàn quốc cũng chỉ được bầu ra Ban chấp hành Trung ương, rồi Ban chấp hành Trung ương mới bầu ra Tổng Bí thư ĐCSVN. Xét về hình thức thì có thể coi là đảng viên ở cơ sở đảng cũng tham gia bầu Tổng Bí thư, nhưng chỉ gián tiếp qua năm tầng đại diện trung gian. Về thực chất thì  sự tham gia của đảng viên ở cơ sở đảng chỉ có tác dụng trang điểm dân chủ, chứ không hề đóng vai trò nào trong việc bầu ra Tổng Bí thư. Cách bầu như trong hai ví dụ vừa nêu được gọi là "bầu cử gián tiếp" (indirect election). Hình thức bầu cử này thường được áp dụng trong những trường hợp mà phía tổ chức không yên tâm với trình độ chung của lực lượng tham gia bầu cử, hay khi phía tổ chức muốn tăng cường khả năng thao túng của mình đối với kết quả bầu cử, hay đơn giản là vì tuân theo truyền thống lịch sử, hoặc không cần thiết phải làm khác đi.
Ngược lại với hình thức "bầu cử gián tiếp" là "bầu cử không gián tiếp", tức bầu cử không qua bất cứ khâu trung gian nào. Nó thường được gọi là "bầu cử trực tiếp" (direct election). Dưới hình thức bầu cử này, cử tri (tức những người tham gia bầu) lựa chọn trực tiếp trong số các cá nhân hay tổ chức ứng cử, để quyết định mình bầu cho ai hay tổ chức nào, nhằm có được kết quả bầu cử cuối cùng. Tức là quyết định bầu ai không được thực hiện bởi các tầng lớp trung gian (như đại cử tri hay người đại diện). Không thế lực nào (kể cả Hội đồng bầu cử quốc gia, Mặt trận Tổ quốc, hay một nhóm nhỏ cử tri) được phép đứng ra cản trở hay tác động vào quyết định bầu ai của cử tri. Đặc biệt, không thể chấp nhận kiểu sơ tuyển, thường được gọi "hiệp thương", nhằm gạt bớt những người tự ứng cử độc lập. Cử tri phải là người đưa ra tiếng nói đầu tiên và cũng là tiếng nói quyết định cuối cùng đối với từng người ứng cử.
Dù là bầu cử gián tiếp hay trực tiếp, luôn tồn tại những phương thức tiến hành bầu cử khác nhau để cử tri thể hiện quyết định bầu ai. Nếu chọn phương thức bầu cử thông dụng nhất, là bỏ phiếu tại những nơi bầu cử, thì cử tri có thể tiếp xúc trực tiếp với hai dụng cụ bầu cử đặc trưng là lá phiếu và hòm phiếu. Nhưng nếu chọn phương thức "bầu bằng cách gửi thư" thì đương nhiên cử tri không cần và cũng không thể tiếp xúc trực tiếp với hòm phiếu. Còn khi chọn phương thức bầu cử bằng máy thì cử tri chỉ tiếp xúc với máy, chứ không tiếp xúc trực tiếp với lá phiếu bầu nữa. Thậm chí, nếu chọn phương thức giơ tay biểu quyết thì chẳng cần có dụng cụ nào để cử tri phải tiếp xúc trực tiếp cả.
Qua đó ta thấy: Không thể coi việc tiếp xúc trực tiếp với dụng cụ phục vụ một phương thức bầu cử cụ thể nào đó là biểu hiện bắt buộc của nguyên tắc bầu cử "trực tiếp", nhất là khi luật bầu cử cho phép sử dụng những phương thức bầu cử khác nhau. Nếu quan niệm việc cử tri phải tự mình viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu là thể hiện bắt buộc cử bầu cử "trực tiếp", thì cũng không thể chấp nhận những trường hợp phải nhờ người khác viết hộ hay bỏ hộ lá phiếu vào thùng phiếu. Khi đó, không thể dùng nguyên tắc bầu cử "phổ thông" để biện hộ cho các trường hợp ngoại lệ, bởi vì nguyên tắc ấy chỉ đảm bảo quyền bầu cử của những công dân có ý muốn và có đủ khả năng tham gia bầu cử.
Thông thường, nếu quy định cử tri phải tự mình viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu, hay không chấp nhận "bầu bằng cách gửi thư", thì lý do chính đáng không phải là để thực hiện nguyên tắc bầu cử "trực tiếp", mà để đảm bảo tính đích thực (rằng lá phiếu đúng là của một người có quyền tham gia bỏ phiếu), để hạn chế tiêu cực, để thực thi nguyên tắc bình đẳng (mỗi người chỉ thể hiện quan điểm của mình thông qua một lá phiếu có giá trị bình đẳng với các lá phiếu khác), và để đảm bảo bí mật trong bầu cử.
Như vậy, từ "trực tiếp" trong thuật ngữ "bầu cử trực tiếp" được dùng để thể hiện mối quan hệ bầu cử giữa cử tri và những người ứng cử, chứ không thể hiện mối quan hệ giữa cử tri với các dụng cụ phục vụ một phương thức bầu cử cụ thể nào đó. Dù đích thân cử tri Mỹ trực tiếp viết phiếu và bỏ nó vào thùng phiếu thì cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ vẫn là bầu cử gián tiếp. Và dù rất nhiều cử tri Đức tham gia bầu bằng cách gửi thư thì cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ở Đức vẫn là bầu cử trực tiếp.
Tiếc rằng, trong giới cầm quyền và giới luật gia Việt Nam lại phổ biến một cách hiểu ngược lại. Chẳng hạn, tài liệu "Một số kiến thức pháp luật về quyền con người - Dành cho giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, môn Pháp luật" (Tập 1) của Vụ Phổ biến, Giáo dục Pháp luật thuộc Bộ Tư pháp (Nhà xuất bản Pháp luật 2012) viết rằng:
"Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư."
Nghĩa là, quan hệ trực tiếp giữa người với người đã bị hiểu nhầm thành quan hệ trực tiếp giữa người với đồ vật. Thành thử, Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015 đã dành rất nhiều câu chữ để quy định về việc cử tri phải trực tiếp viết phiếu rồi bỏ nó vào hòm phiếu, và lúng túng gỡ rối đống bòng bong ngoại lệ, mà càng gỡ thì lại càng rối. Trong khi đó, hai luật ấy lại xử lý sai mối quan hệ bầu cử trực tiếp giữa cử tri và những người ứng cử.
Cần thấy rằng: Quan hệ bầu cử trực tiếp phải hiện diện giữa mọi cử tri và mọi người ứng cử. Xét từ góc độ của cử tri, quan hệ bầu cử trực tiếp có nghĩa là mọi cử tri đều trực tiếp lựa chọn từ tập hợp toàn thể những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình. Ngược lại, xét từ góc độ của người ứng cử, quan hệ bầu cử trực tiếp có nghĩa là mỗi người ứng cử đều có quyền được hưởng và chỉ phải chịu sự đánh giá lựa chọn trực tiếp của tập hợp toàn thể cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình.
Rõ ràng, đối với bầu cử trực tiếp, không tồn tại bất cứ thế lực nào có tư cách chính đáng để đứng ra hạn chế phạm vi tập hợp toàn thể của các cử tri hay tập hợp toàn thể của những người ứng cử. Nếu cử tri chỉ được bầu chọn một phần nhỏ của tập hợp toàn thể những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình, hay nếu người ứng cử chỉ được hay phải chịu sự phán chọn của một phần nhỏ của tập hợp toàn thể cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình, thì tức là có thế lực xông vào chiếm lĩnh vai trò trung gian, đứng ra cắt xén và phá vỡ tính toàn vẹn của mối quan hệ trực tiếp với tập hợp toàn thể. Điều đó đương nhiên là vi phạm nguyên tắc bầu cử "trực tiếp".
Lưu ý rằng, sự lựa chọn của tập hợp toàn thể cử tri đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ có thể thực hiện thông qua lá phiếu của các cử tri trong ngày bầu cử Quốc hội. Tài liệu "Một số kiến thức pháp luật về quyền con người - Dành cho giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, môn Pháp luật" (đã dẫn ở trên) viết rằng:
"Bầu cử trực tiếp, có nghĩa là công dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, công dân trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào."
Tức là cử tri chỉ được "thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu", đương nhiên là bỏ tại địa điểm bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Không thể chấp nhận việc một nhóm nhỏ cử tri sử dụng võ miệng tấn công người ứng cử tại cái gọi là "Hội nghị cử tri", hòng loại bỏ những người tự ứng cử ra khỏi danh sách ứng cử, tiếp diễn trò đấu tố đã từng hoành hành trong cải cách ruộng đất.
Tập hợp toàn thể những người ứng cử bao gồm hai dạng. Dạng thứ nhất là những người được các tổ chức chính trị đề cử. Dạng thứ hai là những người tự ứng cử. Ở đây ta không thảo luận về cơ chế mà các tổ chức chính trị áp dụng để chọn người đưa vào danh sách đề cử của họ, bởi đó là chuyện nội bộ của các tổ chức ấy. Điều đáng quan tâm là số phận của những người tự ứng cử. Họ là ai? Nói chính xác hơn: Những ai thuộc vào diện tự ứng cử để cho cử tri lựa chọn trong ngày bầu cử? Đương nhiên, những người đó phải chính thức đăng ký ứng cử và thỏa mãn những tiêu chuẩn pháp quy hợp hiến có thể dễ dàng xác định một cách chính xác.
Cần nhấn mạnh tính pháp quy hợp hiến, vì không thể dùng những quy định pháp luật vi hiến để cản trở công dân thực hiện quyền hiến định. Ví dụ: Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 quy định "người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội". Trong khi đó, Điều 22 Luật tổ chức Quốc hội quy định rằng đại biểu Quốc hội phải "có trình độ văn hóa". Và như vậy, giả sử Hiến pháp 1992 còn có hiệu lực, thì Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 sẽ trở nên vi hiến, vì Điều 54 Hiến pháp 1992 quy định rằng "công dân, không phân biệt… trình độ văn hoá... đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội". Song, căn cứ vào Hiến pháp hiện hành thì Điều 3 Luật BCĐBQH 2015 không còn bị vi hiến như vậy nữa, bởi vì Điều 27 Hiến pháp 2013 đã gạch bỏ mệnh đề "không phân biệt… trình độ văn hoá".
Hơn nữa, chỉ có thể đòi hỏi người ra ứng cử phải đáp ứng những tiêu chuẩn pháp quy có thể dễ dàng xác định một cách chính xác. Vì nếu không hạn chế trong phạm vi những tiêu chuẩn như vậy, thì ai sẽ là người có đủ khả năng và tư cách để phán xét, xem đương sự có đáp ứng hay không? Chẳng hạn, có thể căn cứ vào giấy khai sinh để xác định xem đương sự đã đủ 21 tuổi trở lên hay chưa. Hay căn cứ vào bằng tốt nghiệp để xác định xem đương sự đã tốt nghiệp phổ thông hay chưa. Luật Bầu cử CHLB Đức (Điều 20) chỉ đưa ra một tiêu chuẩn bắt buộc duy nhất đối với những người tự ứng cử, là phải xuất trình chữ ký ủng hộ của ít nhất 200 cử tri ở cùng đơn vị bầu cử, bởi vì đó là tiêu chuẩn có thể kiểm chứng dễ dàng. Nói chung, những tiêu chuẩn kiểu này phải mang tính định lượng và được thể hiện rõ ràng trên giấy tờ. Còn những tiêu chuẩn định tính thì không ai có thể xác định một cách tuyệt đối khách quan và chính xác.
Tiếc rằng, tất cả các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 22 của Luật Tổ chức Quốc hội (số 57/2014/QH13, do Quốc hội khóa XIII ban hành 20/11/2014) đều thuộc loại lơ mơ, dễ nắm bắt... như lươn. Chẳng hạn:
"1. Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp..."
"2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng..."
"3. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội."
Than ôi, biết làm sao để cân đo đong đếm lòng trung thành với Tổ quốc? Thỏa thuận Thành Đô thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc nào? Suốt mấy chục năm ròng ngăn cấm việc trình bày sự thật lịch sử của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc trong sách giáo khoa, cản trở các thế hệ sinh sau đẻ muộn tìm hiểu một trong những chương quan trọng nhất của lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Cái thế lực ngăn cấm, cản trở ấy có trung thành với Tổ quốc hay không? Suốt mấy nhiệm kỳ liên tiếp, Quốc hội đều phớt lờ việc sách giáo khoa tránh nhắc tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, trận đánh Gạc Ma bảo vệ Trường Sa năm 1988... Rồi phớt lờ cả việc chính quyền cản trở, đàn áp những công dân tham gia tưởng niệm các đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh. Điều đó có chứng minh lòng trung thành với Tổ Quốc của tất thảy đại biểu Quốc hội hay không?
Một Quốc hội bất chấp nguyện vọng đích thực của Nhân dân, hiến định thể chế xã hội chủ nghĩa đã lụn bại từ lâu, hiến định vô điều kiện quyền lãnh đạo vĩnh viễn của ĐCSVN, phủ định cả quyền sở hữu của người dân đối với đất đai đã được khai hoang và thừa kế từ bao đời, thì có thể coi là trung thành với Nhân dân hay không?
Một Quốc hội từng thông qua bao điều luật vi hiến, thậm chí 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội đã biểu quyết tán thành thông qua một Hiến pháp vi hiến (tức là Hiến pháp vi phạm chính nó), thì có thể coi là trung thành với Hiến pháp hay không?
Làm thế nào để xác định "phẩm chất đạo đức tốt"? "Tốt" theo quan niệm nào? Theo lập trường ngoại lai giả danh giai cấp, hay lý tưởng thực sự vì Nước vì Dân? Theo thước đo chuyên chính vô sản cực đoan, hay chuẩn mực dân chủ đích thực? Những ai trong số leo trèo trên chính trường thực sự "vô tư"?
Một Quốc hội chưa phế truất được bất cứ phần tử tham nhũng nào trong bộ máy ngập tràn tham nhũng, thì có thể coi là "có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng" hay không?
Những ai không đáp ứng tiêu chuẩn "có trình độ văn hóa"? Sau một năm cắp sách tới trường thì đã có "có trình độ văn hóa" lớp 1. Gắng 12 năm thì "có trình độ văn hóa" lớp 12. Thậm chí, mù chữ mà biết hát xẩm thì cũng ít nhiều "có trình độ văn hóa" dân gian. Vậy thì đại biểu Quốc hội phải "có trình độ văn hóa" tầm nào, sao không viết rõ?
Thông qua một bản hiến pháp với đầy lỗi sơ đẳng với vẻn vẹn hai phiếu trắng và không hề có phiếu chống, thì có phải tất cả các đại biểu Quốc hội đều "có đủ năng lực... để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội", hay không?
Hỏi lịch sự như vậy thôi, chứ dù thận trọng đến đâu thì cũng có thể khẳng định rằng: Quá nhiều đại biểu Quốc hội KHÔNG "đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội".
Có hai câu hỏi nảy sinh ở đây:
- Một là, nếu bản thân các đại biểu Quốc hội đương nhiệm còn không "đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội", thì có quyền đòi hỏi "người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội", hay không?
- Hai là, có thể dùng cái cơ chế và bộ máy đã từng tuyển chọn ra biết bao đại biểu Quốc hội không đáp ứng các tiêu chuẩn… để chọn lọc những người ứng cử, hay không?
Câu trả lời tất nhiên là KHÔNG và KHÔNG.
Rõ ràng, không thể dùng những tiêu chuẩn vu vơ, khó xác định chính xác, như các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13, để làm lý do gạt bỏ một số người ứng cử khỏi danh sách ứng cử.
Nếu tồn tại tiêu chuẩn định tính hợp lý hợp pháp nào đó đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội, thì từng cử tri sẽ tự mình xem xét và đánh giá những người ứng cử, để đưa ra kết luận và quyết định cho riêng mình, rằng bản thân sẽ bầu chọn ai. Không có tổ chức hay cá nhân nào có đủ tư cách đứng ra làm việc ấy, thay cho bản thân các cử tri. Và hiển nhiên, không thể chấp nhận thủ đoạn được triển khai tại các "Hội nghị cử tri", trong đó huy động một nhúm cử tri nhân danh toàn thể cử tri để phán xét và buộc tội những người tự ứng cử, hòng loại họ ra khỏi danh sách ứng cử.
Chính vì thế, nếu người nào đó muốn tự ứng cử và đáp ứng được những tiêu chuẩn định lượng hợp hiến hợp pháp, thì cơ quan tổ chức bầu cử không được phép ngăn cản người ấy ứng cử. Mà theo Hiến pháp và Luật BCĐBQH hiện hành, thì người ứng cử đại biểu Quốc hội chỉ cần là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chỉ phải thỏa mãn một tiêu chuẩn định lượng duy nhất là "đủ hai mươi mốt tuổi trở lên".
Vậy mà Điều 43 Luật BCĐBQH 1997 lại cho phép Hội nghị hiệp thương "lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội", và Điều 48 Luật BCĐBQH 2015 sửa tên danh sách ấy thành "danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội". Dù gọi tên danh sách thế nào, thì về thực chất cũng là loại bỏ bớt một số người ứng cử.
Như đã viết ở trên, ta không bàn đến thành phần được Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề cử, nên cũng không thảo luận về việc các tổ chức ấy dùng cơ chế "hiệp thương" để sàng lọc và thiết lập danh sách đề cử của họ. Song phải khẳng định rằng: Hội nghị hiệp thương không có tư cách chính đáng để loại bỏ bớt những người tự ứng cử không hề tham gia hiệp thương, cũng như những người được các tổ chức không tham gia hiệp thương đề cử.
Để ngụy tạo tính chính đáng, trong Luật BCĐBQH 2015, Điều 48 quy định rằng "Hội nghị hiệp thương lần thứ ba căn cứ vào… kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội". Mà theo Điều 44 thì "việc tổ chức lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật này", tức tại cái gọi là "Hội nghị cử tri", thứ "được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử đại biểu Quốc hội cư trú thường xuyên", và ở cả một số cơ quan, nơi người ứng cử làm việc.
Gọi "Hội nghị cử tri" là vô tình lạm danh hay cố tình lừa dối. Bởi vì số cử tri tham gia "Hội nghị cử tri" chỉ chiếm chưa đến một phần nghìn cử tri của đơn vị bầu cử. Thật vậy, trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII vào năm 2011, cả nước có 62.313.605 cử tri và được chia thành 183 đơn vị bầu cử. Như vậy, bình quân mỗi đơn vị bầu cử có khoảng 340.512 cử tri. Nếu một thôn hay tổ dân phố có khoảng 200 cử tri, thì nó chỉ chiếm khoảng 0,059% (tức là chưa đến 6 phần vạn) toàn bộ cử tri của đơn vị bầu cử. Trên thực tế, khi cần loại bỏ người tự ứng cử thì tỷ lệ cử tri tham gia "Hội nghị cử tri" còn thấp hơn hẳn, vì chỉ những phần tử cốt cán đắc lực mới được huy động đến.

Như vậy, chỉ có một phần siêu nhỏ cử tri thuộc đơn vị bầu cử tham gia cùng bộ máy tổ chức bầu cử để loại bỏ một số người tự ứng cử. Hậu quả là một số người tự ứng cử bị loại bỏ khỏi cuộc bầu cử chỉ vì ý kiến của một phần siêu nhỏ cử tri, trong khi nguyên tắc bầu cử "trực tiếp" đảm bảo họ có quyền được hưởng và chỉ phải chịu sự đánh giá lựa chọn trực tiếp của tập hợp toàn thể cử tri thuộc đơn vị bầu cử của mình. Đó là cái sai nhìn từ góc độ của người ứng cử. Còn về phía cử tri, họ chỉ được bầu chọn một phần trong số những người ứng cử, trong khi nguyên tắc bầu cử "trực tiếp" đòi hỏi họ phải được trực tiếp lựa chọn từ tập hợp toàn thể những người ứng cử tại đơn vị bầu cử của mình.

Tóm lại, xét về mọi phương diện, việc dùng cơ chế "hiệp thương", trong đó có dựa vào ý kiến của cái gọi là "Hội nghị cử tri", để gạt bỏ bớt những người tự ứng cử là hành vi chen ngang của thế lực trung gian, nhằm tước bỏ quyền bầu chọn trực tiếp của cử tri đối với tất cả những người ứng cử, và quyền được lựa chọn trực tiếp của những người ứng cử bởi toàn thể cử tri. Vì vậy, cơ chế vi hiến này vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc bầu cử "trực tiếp".

Hoàn cảnh tệ hại có thể xảy ra đối với không ít cử tri, khi họ cho rằng tất cả các vị có tên trong danh sách ứng cử do bộ máy tổ chức bầu cử đưa ra đều "có vấn đề" (chẳng hạn không kém năng lực thì lại tham nhũng…). Và các cử tri đó chỉ tín nhiệm mấy người thuộc diện tự ứng cử, song đã bị gạt bỏ trước ngày bầu cử bởi cơ chế "hiệp thương". Vậy là chẳng còn ai trong danh sách ứng cử đáng để họ bầu nữa. Nghĩa là cử tri có quyền bầu cử trực tiếp, nhưng lại là trực tiếp với hư vô.
(Còn tiếp 1 kỳ)

Hoàng Xuân Phú (Bauxitevn)

Không có nhận xét nào: