Bầu cử kiểu gì khi tệ ngay từ luật (Hoàng Xuân Phú)


CÀNG GẦN cuối nhiệm kỳ, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng càng phát ngôn nhiều câu ấn tượng, gần hơn với sự thật. Chẳng hạn, trong phiên làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 23/2/2016, Chủ tịch Quốc hội đã thẳng thắn thừa nhận rằng:
"Thủ tục hành chính đối với dân giờ cay nghiệt, độc ác lắm. Có tiền là cấp, không có tiền là không cấp."

Hàng chục triệu nạn nhân bỗng dịu lòng, bởi lần đầu tiên nỗi cực khổ của họ được một vị trong "tứ trụ triều đình" công khai thừa nhận. Nhưng rồi chững lại, khi nhận ra Chủ tịch Quốc hội mới chỉ hiên ngang rảo bước trong cái vành đai ngoài cùng, nơi trú ngụ của phần nhỏ sự thật mang tính hệ quả, mà vẫn còn ngoảnh đi, tránh nhìn vào khu vực trung tâm, chốn chất chứa những sự thật cốt lõi mang tính tiền đề.
Cái thủ tục hành dân ấy từ đâu mà ra? Hiển nhiên, chẳng phải từ trên trời rơi xuống, cũng chẳng phải từ dưới địa ngục chui lên, và chắc chắn không phải do thế lực thù địch cài cắm, để phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa tự xưng là ưu việt. Rõ ràng, thủ tục hành chính chỉ là công cụ được sử dụng để hành dân. Thế còn thủ phạm tạo ra và sử dụng công cụ hành dân là những ai?
Nếu Chủ tịch Quốc hội chỉ tay về phía cơ quan hành pháp, thì xin hỏi tiếp: Cơ quan hành pháp từ đâu mà ra? Một trong những nhiệm vụ của Quốc hội, được hiến định tại Điều 70 Hiến pháp 2013, là "bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm… Thủ tướng Chính phủ" và "phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ". Vậy thì tại sao Quốc hội lại bầu, lại phê chuẩn cái đội ngũ đẻ ra thủ tục hành dân? Và nếu nhận ra đã bầu nhầm, thì tại sao lại không bãi nhiệm? Nếu vì sợ "vỡ bình hoa" mà đành tránh "đánh con chuột" (theo cách nói của Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng), thì Quốc hội vẫn còn có một nhiệm vụ hiến định khác, là "bãi bỏ văn bản của... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ". Biết chúng "cay nghiệt, độc ác lắm", tại sao Quốc hội không ra tay bãi bỏ? Đứng đầu "cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 69 Hiến pháp 2013), mà gần về hưu mới thừa nhận vài cái "đối với dân giờ cay nghiệt, độc ác lắm", thì đã quá buồn. Nhận ra rồi, mà làm như vô can, vẫn không chịu ra tay bãi bỏ theo thẩm quyền hiến định, thì còn đáng buồn hơn.
Cũng chẳng cẩn phải tìm kiếm đâu xa. Bản thân Quốc hội cũng sinh ra rất nhiều điều khoản Hiến pháp và pháp luật, mà đối với dân thì cũng thuộc dạng "cay nghiệt, độc ác lắm". Chúng là tiền đề pháp lý cho các thủ tục "hành dân là chính". Một trong những luật mới nhất, chứa đựng nhiều điều khoản tệ hại, là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Số 85/2015/QH13, được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/6/2015 (sau đây viết tắt là Luật BCĐBQH 2015). Nó thay thế cho Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (không số) được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 15/4/1997 (sau đây viết tắt là Luật BCĐBQH 1997).
Luật BCĐBQH 2015 được áp dụng để tổ chức kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đã chính thức bắt đầu vào ngày 25/11/2015, khi Quốc hội khóa XIII ra Nghị quyết số 105/2015/QH13. Nghị quyết ấy xác định ngày bầu cử là 22/5/2016 và công bố danh sách Hội đồng bầu cử quốc gia, do ông Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch. Rõ khổ, trước lúc về hưu lại còn phải đứng đầu cái hội đồng "không cần phải bầu", bởi "làm gì có... độc lập", như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định trong cuộc họp của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội (thảo luận về dự thảo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân) vào sáng 25/2/2015:
"Đất nước chỉ một Đảng thì làm gì có Hội đồng bầu cử quốc gia độc lập? Thực tế không có chuyện bầu lại Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng không, nên không cần phải bầu Hội đồng bầu cử quốc gia."
Đương nhiên, Luật BCĐBQH 2015 ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của kỳ bầu cử và cả chất lượng của đội ngũ đại biểu Quốc hội khóa XIV. Tại Hội nghị triển khai Quy chế phối hợp công tác năm 2016 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào chiều ngày 2/3/2016, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đã nói:
"Bây giờ chỉ có tiếp tục chỉ đạo, giải đáp thắc mắc, tổ chức triển khai làm sao cho cuộc bầu cử này thật sự dân chủ, công bằng, thực sự đúng pháp luật và là ngày hội của toàn dân."
Liệu cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội này có thể "thật sự dân chủ, công bằng, thực sự đúng pháp luật" hay không? Đã từng có một cuộc bầu cử tốt đẹp như thế diễn ra dưới chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước Việt Nam hay chưa? Vì sao? Và công dân nên ứng xử thế nào cho phải?
Bài viết này trình bày một số ý, góp phần để chúng ta cùng nhau tìm lời giải đáp cho mấy câu hỏi nêu trên. Nó được chia thành bốn phần. Phần 1, với tiêu đề "Thăng trầm hiến định", điểm lại quá trình biến đổi của các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội, được hiến định trong năm bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phần 2, với tiêu đề "Thực tế bi hài", lược qua một số biểu hiện sai trái của mấy kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội trước đây. Phần 3, với tiêu đề "Căn nguyên từ luật", phân tích một số nguyên nhân luật định tất yếu dẫn đến tiêu cực, bắt nguồn từ Luật BCĐBQH 1997 và Luật BCĐBQH 2015. Phần 4, với tiêu đề "Băn khoăn muôn mối", trao đổi về một số tâm tư, suy nghĩ trên cương vị công dân đối với cuộc bầu cử sắp tới.
1.  Thăng trầm hiến định
Sau khi khai sinh ra chế độ hiện thời, các nhà lập hiến đã long trọng khẳng định trong Hiến pháp 1946 (Điều thứ 17) rằng:
"Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu. Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp và kín."
13 năm sau, nguyên tắc bầu cử được hiệu chỉnh trong Hiến pháp 1959 (Điều 5) như sau:
"Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín."
Nội dung này được tiếp tục duy trì trong Hiến pháp 1980 (Điều 7), Hiến pháp 1992 (Điều 7) và Hiến pháp 2013 (Điều 7).
Có một "thay đổi nhỏ", nhưng phản ánh một "chuyển biến lớn" của đội ngũ từng giương cao ngọn cờ "tự do" để giành chính quyền, đó là xóa bỏ "tự do" trong điều hiến định về nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội. Thay vào đấy là "bình đẳng", thứ lung linh đã tưởng chừng trôi dần gần tầm với, song từ thời "đổi mới" nó ngày càng dạt ra xa, mà vẫn bị đem ra ca hoài ca mãi, như thể đùa dai.
Phải chăng việc triệt tiêu nội dung hiến định "bỏ phiếu phải tự do" là nhằm dọn đường cho việc cản trở công dân tự do ứng cử và ép người người phải tham diễn vở bầu cử phi dân chủ?
Nguyên tắc bầu cử "phổ thông" được Hiến pháp 1946 (Điều thứ 18) cụ thể hóa như sau:
"Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền."
"Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ."
Với kinh nghiệm của 14 năm cầm quyền, các nhà lập hiến đã sửa lại quy định về bầu cử "phổ thông" trong Hiến pháp 1959 (Điều 23) như sau:
"Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử."
Điều đặc biệt là: Hiến pháp 1959 đã hủy bỏ đòi hỏi "người ứng cử… phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ" của Hiến pháp 1946, đồng thời khẳng định "công dân… không phân biệt… trình độ văn hóa… đều có quyền ứng cử". Phải chăng đó là cách nhận thức về "bình đẳng", thứ được đem ra thay thế cho "tự do"? "Bình đẳng" kiểu ấy tất yếu sinh ra loại Quốc hội với đại đa số đại biểu chỉ có trình độ tầm đại chúng, không đủ khả năng tham gia lập hiến và lập pháp.
Hãy tưởng tượng xem, nếu mấy ông bà mù chữ ứng cử đại biểu Quốc hội, rồi trúng cử và tham gia thực hiện những nhiệm vụ trọng đại được hiến định tại Điều 50 Hiến pháp 1959, như làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm pháp luật, quyết định kế hoạch kinh tế Nhà nước, thì sẽ vất vả đến nhường nào? Song nếu được gợi ý ra ứng cử, thì chắc hẳn những người thất học cũng nhận ra, là mình bị đẩy lên sân khấu đóng vai hề. Sao lại nỡ bỡn cợt với phận nghèo như vậy?
Đó chỉ là một ví dụ nho nhỏ, nhưng lại rất đặc trưng cho kiểu hiến định đã trở thành tập quán: Càng không định tôn trọng và thực thi Hiến pháp thì càng hiến định hào phóng.
Sau khi đã thống nhất đất nước, nắm trọn trong tay quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, nhà cầm quyền lại hạn chế tiếp trong Hiến pháp 1980 (Điều 57):
"Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó."
Cái gì thay đổi ở đây? Cụm từ "có quyền ứng cử" đã bị xóa bỏ khỏi Hiến pháp. Thay vào đấy là mệnh đề  "có thể được bầu vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp".
Vậy là, bằng thủ thuật tráo chữ, Hiến pháp 1980 đã công khai phủ nhận "quyền ứng cử" của công dân vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Thay đổi ấy là một trong những bằng chứng có thể minh họa nhận định của một số người, cho rằng Hiến pháp 1980 thuộc loại phi dân chủ nhất trong năm bản Hiến pháp của chế độ này. Nhưng đấy là xét về hình thức. Còn xét về thực chất, từ phương diện "quyền ứng cử" của công dân, thì phải chăng Hiến pháp 1980 là tử tế nhất trong số bốn bản Hiến pháp từ năm 1959 đến nay? Vì sao ư? Bởi lẽ nó trung thực nhất. Cho dù "quyền ứng cử" tự do của công dân có được hiến định hay không, thì trên thực tế, suốt bao thập kỷ đằng đẵng, quyền ấy cũng không được nhà cầm quyền tôn trọng và chấp nhận trên thực tế. Vừa hiến định công dân có "quyền ứng cử", đồng thời lại dùng mọi thủ đoạn (từ công cụ pháp luật đến tiểu xảo chợ búa) để cản trở công dân ứng cử, thì kiểu lừa gạt ấy còn tệ hơn hẳn việc công khai khước từ "quyền ứng cử".
Hiến pháp 1992 (Điều 54) khôi phục "quyền ứng cử" của công dân:
"Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật."
Nhưng như vậy lại trở về với trạng thái hào phóng giả tạo của Điều 23 Hiến pháp 1959, là "Công dân, không phân biệt… trình độ văn hoá… đều có quyền ứng cử vào Quốc hội…". Tuy cụm từ "theo quy định của pháp luật" được dùng làm vũ khí ám muội nhằm hạn chế quyền công dân, nhưng một khi Hiến pháp đã khẳng định "không phân biệt… trình độ văn hoá…", thì không thể sinh ra thứ "quy định của pháp luật" nào đó hòng đòi hỏi công dân thực hiện "quyền ứng cử" phải "biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ" (như đã từng quy định trong Hiến pháp 1946), hay phải có "trình độ văn hóa" ở mức nào đó. Đây là một trong những ví dụ khắc họa tầm tư duy thấp kém của đấng lập hiến.
Chẳng biết vô tình hay hữu ý, nhưng nhờ viết gọn hơn nên Hiến pháp 2013 (Điều 27) đã thoát khỏi trạng thái trớ trêu ấy:
"Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định."
Mệnh đề "Việc thực hiện các quyền này do luật định" là sáng tạo mới mẻ, được huy động để tạo ra bức tường thành tùy tiện mà kiên cố, có thể dễ dàng ngăn cản công dân "thực hiện" các quyền cơ bản, nếu nhà cầm quyền cố tình không ban hành "luật định". Nhưng tiếc thay, giăng bẫy rồi tự sập bẫy, như đã phân tích trong bài "Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?".
Dù quyền bầu cử và ứng cử được hiến định thăng trầm thế nào, thì điều quan trọng đọng lại vẫn là: Cả năm bản Hiến pháp của chế độ này đều khẳng định ba nguyên tắc bầu cử "phổ thông", "trực tiếp" và "bỏ phiếu kín". Trong khi Hiến pháp 1946 quy định "bỏ phiếu phải tự do", thì bốn bản Hiến pháp tiếp theo thay thế nội dung ấy bằng nguyên tắc "bình đẳng".
2.  Thực tế bi hài
Hiến pháp quy định như vậy, còn trên thực tế thì các cuộc bầu cử diễn ra như thế nào? Ta hãy cùng nhau điểm qua một số nét của bức tranh toàn cảnh, để hiểu phần nào lý do, tại sao một số người lại so sánh cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội với màn bi hài kịch.
2.1. Vừa đá bóng vừa thổi còi
Bầu cử đại biểu Quốc hội thường được mở màn bằng việc ra mắt "Hội đồng bầu cử ở Trung ương". Theo Điều 14 Luật BCĐBQH 1997, được sửa đổi theo Luật số 63/2010/QH12 ngày 24/11/2010, Hội đồng này là tổ chức do "Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập", để "lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước".
Đặc biệt, Hội đồng bầu cử chính là nơi "lập và công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước". Với chức năng này, Hội đồng bầu cử có thể lập ra danh sách ứng cử chỉ bao gồm những người của "họ", hay ít nhất cũng được "họ" chấp nhận. Muốn trúng cử thì hiển nhiên phải lọt vào danh sách những người ứng cử, nhưng kết quả còn phụ thuộc nhiều vào việc người ứng cử được Hội đồng phân đến đơn vị bầu cử nào. Nếu bị xếp vào đơn vị mà cử tri thuộc loại "cứng đầu", lại phải cạnh tranh với mấy đối thủ quá mạnh, thì chưa vào trận đã nắm chắc phần thua. Ngược lại, nếu gặp được khối cử tri "dễ bảo", lại chỉ phải tranh cao thấp với mấy vị lùn lùn, thì chưa cần nhón chân đã có thể vững tin là thắng.
Hơn nữa, Hội đồng bầu cử cũng là nơi "giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội…; giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội; giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội". Giữa thời buổi suy đồi, ai dám đảm bảo rằng "người nhà" sẽ bị xử lý nghiêm khắc khi gian lận?
Vì vậy, không quá khó hiểu nếu người ứng cử nào đó muốn "vun đắp quan hệ tình cảm" với các thành viên của Hội đồng bầu cử nhằm mưu cầu thuận lợi. Song đừng tưởng như vậy đã là cao tay, bởi vẫn còn kém lợi thế của các siêu ứng cử viên, những vị chẳng cần mất công "quan hệ", vì bản thân là Chủ tịch, hay Phó Chủ tịch, hay thành viên của Hội đồng bầu cử. Vị thế siêu đẳng ấy rất thuận lợi cho những ai muốn vừa chăm việc nước, vừa lo việc nhà, tự lựa chọn đơn vị bầu cử thuận lợi cho bản thân, và đỡ phải e dè khiếu nại.
Nếu muốn tìm hiểu công nghệ vừa lãnh đạo bầu cử vừa ứng cử, có thể tham khảo kinh nghiệm của ông Nông Đức Mạnh. Ngày 14/4/1997 Chủ tịch Quốc hội khóa IX Nông Đức Mạnh đã ký Nghị quyết số 360 NQ/UBTVQH9 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó bổ nhiệm chính mình làm Chủ tịch Hội đồng bầu cử ở Trung ương để lãnh đạo việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, mặc dù bản thân cũng ra ứng cử, và tất nhiên đắc cử, rồi sau đó lại tiếp tục làm Chủ tịch Quốc hội khóa X.
Tương tự, Chủ tịch Quốc hội khóa XII Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 1018/NQ-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 21/1/2011, trong đó bổ nhiệm chính mình làm Chủ tịch của "Hội đồng bầu cử để phụ trách tổ chức việc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII…", mặc dù bản thân cũng ra ứng cử. Cùng với ông Chủ tịch, Hội đồng bầu cử này còn có thêm 12 vị nữa (tức là chiếm 61,9% trong tổng số 21 thành viên) cũng là ứng cử viên và hiển nhiên cũng trúng cử vào Quốc hội khóa XIII. Đó là bà Tòng Thị Phóng, khi ấy là Phó chủ tịch Quốc hội khóa XII kiêm Phó chủ tịch thường trực Hội đồng bầu cử Quốc hội khóa XIII. Và đó là hai vị Phó chủ tịch Hội đồng bầu cử Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Thị Doan, cùng các thành viên Lê Hồng Anh, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Thị Thanh Hòa, Nguyễn Đức Kiên, Vũ Trọng Kim, Uông Chu Lưu, Huỳnh Ngọc Sơn, Phùng Quang Thanh và Đặng Ngọc Tùng.
Thử hỏi có quốc gia văn minh nào mà đương kim tổng thống vừa tái ứng cử tổng thống, lại vừa đứng ra lãnh đạo toàn quốc bầu cử tổng thống, hay không? Cũng chẳng cần nghiêng ngó đâu xa, mà ngay ở Việt Nam, tại những vùng quê chậm tiến nhất, đương kim trưởng thôn cũng đủ tỉnh táo và tự trọng để không vừa tái ứng cử trưởng thôn, lại vừa đứng ra lãnh đạo toàn thôn bầu cử trưởng thôn. Ấy vậy mà cõi lòng thiên giới lại chẳng hề gợn chút lăn tăn...
2.2. Rộng đường qua ải… lỗ kim
Dù quyền ứng cử được long trọng hiến định, nhưng những người thực sự tự ứng cử (tức không phải được tổ chức phân công sắm vai "tự ứng cử" để hóa trang dân chủ cho chế độ) rất khó lọt vào "danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội". Đầu tiên họ được vận động, thậm chí có thể bị hăm dọa, để phải tự rút lui. Nếu vẫn chưa "tỉnh ngộ", thì sẽ vấp ải "lấy ý kiến cử tri".
Hội nghị cử tri nơi cư trú được đạo diễn rất công phu. Đối với những trường hợp ứng cử thuộc diện đặc biệt, cần sớm bị loại bỏ, thì chỉ những cử tri chọn lọc mới được tham dự, bởi nơi tổ chức Hội nghị cử tri được bảo vệ nghiêm ngặt như chốn xử án kín. Cuộc đối thoại được tổ chức theo công nghệ phát minh từ thời cải cách ruộng đất. Sau màn đấu tố, kết quả bỏ phiếu tín nhiệm người tự ứng cử thế nào thì chẳng nói cũng rõ.
Không chỉ những nhân vật bị xếp vào sổ đen mới bị phân biệt đối xử. Ngay cả nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cũng phải nếm "quả đắng" khi ra ứng cử Quốc hội vào năm 2011. Như được trình bày trong đơn khiếu nại của ông Lê Cường (Ủy viên Hội đồng biên tập Tạp chí Quê hương - thuộc Bộ Ngoại giao), ông Hải đã gửi thư trực tiếp đến ngài Nguyễn Phú Trọng, với các tư cách Tổng Bí thư ĐCSVN, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử, kiêm cả Trưởng đoàn giám sát bầu cử tại Hà Nội. Trong thư ấy ông Hải viết rằng:
"Đây là một cuộc Hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú để Hội đồng bầu cử hiểu biết thêm về nét sinh hoạt của tôi tại địa phương, và sẽ là một cuộc lấy ý kiến công bằng dân chủ, nhưng rất tiếc là không phải như vậy:
- Không mời những cử tri của các hộ liền kề nơi cư trú của ứng cử viên.
- Mời quá nhiều những cử tri không ở nơi cư trú của ứng cử viên mà không rõ nguồn gốc.
- Bố trí những người phát biểu xuyên tạc về lý lịch và hoạt động khoa học của ứng cử viên.
- Ứng cử viên không được trả lời những phát biểu xuyên tạc.
- Phát hành số phiếu quá nhiều so với thông báo ban đầu.
- Quyết định bỏ phiếu ngay lập tức sau khi đã xuyên tạc về ứng cử viên mà ứng cử viên không được trả lời.
- Ban kiểm phiếu không kiểm phiếu trước mặt Hội nghị mà mang nhau sang buồng riêng, nên không thể rõ sự minh bạch của những phiếu này."
Nếu người ứng cử được coi là "vô hại", thì có thể trót lọt khi lấy ý kiến cử tri nơi làm việc và nơi cư trú. Nhưng đừng vội mừng mà hụt, vì khó lòng vượt qua cái ải gọi là "Hội nghị Hiệp thương lần thứ ba". Lần này,"Hội nghị hiệp thương căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội." (Điều 43 Luật BCĐBQH 1997, được sửa đổi theo Luật số 31/2001/QH10)
Về cơ bản, vở kịch ứng cử dân chủ kết thúc tại đây. Bởi phần lớn những người tự ứng cử, đã vượt qua mọi thử thách, bây giờ cũng bị loại khỏi vòng chiến. Tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII vào năm 2011, trong số 832 ứng viên được đưa vào "danh sách chính thức", chỉ có 15 người tự ứng cử, chiếm 1,80%. Còn lại một "danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội" với hầu hết là người của "họ", dù bỏ phiếu cho ai thì cử tri cũng chỉ thực hiện "quyền tự do bầu cho họ" mà thôi.
Sau khi thỏa mãn mọi tiêu chuẩn và đạt được số phiếu cao trong hai cuộc "lấy ý kiến cử tri", một số người tự ứng cử đang vững tin là mình sẽ lọt vào danh sách chính thức, nay lại đột nhiên phải chia tay với cuộc thử nghiệm dân chủ, mà không rõ vì sao.
Nhà báo Nguyễn Minh Tuấn, phóng viên báo Đại đoàn kết, thuộc vào số tự ứng cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã rơi vào hoàn cảnh ấy. Khi đó, ông đã được trên 80% phiếu ủng hộ tại Hội nghị cử tri nơi công tác và 100% phiếu ủng hộ tại Hội nghị cử tri nơi cư trú. Vì vậy, như ông tâm sự 10 năm sau,
"Đến vòng Hiệp thương 3, tôi chờ đợi, và tin chắc tên mình sẽ có trong danh sách ứng cử viên chính thức, để đưa ra cuộc bầu cử Quốc hội chính thức, vì tôi đã lọt qua '2 vòng sát hạch' rồi. Thế nhưng ít hôm sau, mấy người bạn là đồng nghiệp ở mấy tờ báo bạn gọi điện đến cho tôi, hỏi tôi là 'Tại sao cậu lại xin tự rút lui ra khỏi danh sách bầu cử chính thức?'. Tôi rất ngạc nhiên, nói là tôi đã tham gia xin tự ứng cử Quốc hội, thì sao lại xin tự rút được. 'Hội đồng bầu cử họ nói thế đấy', một người bạn nói với tôi."
Và sau khi cuộc bầu cử Quốc hội kết thúc được khoảng hơn một tháng, ông Nguyễn Minh Tuấn nhận được thư của Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội, giải thích rằng:
"Do yêu cầu về cơ cấu, thành phần, và số lượng ĐBQH Khóa 10 của Hà Nội có hạn, nên không thể đưa hết các ĐB vào danh sách để giới thiệu ra ứng cử Đại biểu Quốc hội được…"
Cứ như thế, số tự ứng cử cứ rụng dần, rồi cuối cùng rơi lả tả như cành hoa đào bị lẳng đi sau khi đã hoàn thành sứ mạng trang trí tết. Lúc kết thúc nhận hồ sơ vào chiều ngày 18/3/2011, Thành phố Hồ Chí Minh có 22 người tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII. Đến ngày 20/4/2011, sau hiệp thương vòng ba, chỉ 4 người trong số đó được đưa vào danh sách chính thức để bầu đại biểu Quốc hội khóa mới. Cuối cùng, chỉ một người tự ứng cử có tên Hoàng Hữu Phước trúng cử vào Quốc hội khóa XIII. Đó chính là vị hay phát biểu kiểu "bảo hoàng hơn vua" tại diễn đàn Quốc hội, khiến dư luận vấn vương với câu hỏi: Không hiểu ông ta có thực sự "tự ứng cử" hay không?
Như vậy, chỉ có 4/22 = 18,18% trong số tự ứng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh được đưa ra cho cử tri bầu trực tiếp vào năm 2011. Tỷ lệ này khá thấp, nhưng vẫn còn cao hơn hẳn so với kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII vào năm 2007. Khi đó, chỉ có 7 trong số 101 người tự ứng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 6,93%) lọt vào "danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội", và cuối cùng thì không ai trúng cử. Sự gia tăng tỷ lệ "lọt vào vòng chung kết" không hẳn bắt nguồn từ tiến bộ dân chủ, mà do số người tự ứng cử đã giảm đi 101/22 = 4,59 lần sau bốn năm. Phải chăng, sụt giảm đó cũng thể hiện nỗi thất vọng đọng lại sau màn bầu cử 2007?
2.3. Bầu... "cua trong lỗ"
Dân chủ bầu cử chỉ có thể trở thành hiện thực nếu công dân có quyền lựa chọn. Trước hết, số ứng cử phải nhiều hơn hẳn số cần bầu. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ! Lựa chọn chỉ thực chất khi công dân có đầy đủ thông tin cần thiết, để so sánh giữa các ứng cử viên và đối chiếu với mong muốn của bản thân, mà đưa ra quyết định. Không có đủ thông tin mà vẫn lựa vẫn chọn, thì đó chỉ là trò đùa nhân danh dân chủ mà thôi.
Tiếc rằng, các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ở CHXHCN Việt Nam thường giống như "ngày hội bầu… cua trong lỗ". Cử tri hầu như không biết gì về những người mà họ phải bầu, phải chọn. Thậm chí, quá nửa danh sách người ứng cử là những cái tên mà cử tri mới đọc lần đầu khi bước chân vào phòng bỏ phiếu.
Trước ngày bầu cử người ta cũng tổ chức cho những người ứng cử tiếp xúc với cử tri, nhưng chỉ là hình thức, làm cho có. Gọi là tiếp xúc với cử tri, nhưng thường thì chưa đến một phần nghìn cử tri thuộc đơn vị bầu cử được tiếp xúc. Thay vì công bố rộng rãi cho người người đều biết, để bất cứ ai quan tâm cũng có thể đến tham dự, thì lại tiến hành lặng lẽ như thể vụng trộm, chỉ một vòng hẹp "cử tri cốt cán" nhận được giấy mời. Thay vì tổ chức ở nơi rộng thênh thang, đủ chỗ cho ngàn người chứng kiến, thì lại bố trí phòng họp nhỏ xíu, khiến cử tri "hạng hai" muốn đến nghe lỏm cũng khó chen chân. Mà dù có chen được vào, thì sau chút thời gian dành cho cả dàn ứng cử viên đồng diễn, người nghe chẳng hiểu thêm mấy về tính cách và năng lực của mỗi cá nhân.
Một thời gian dài, người ta còn "chu đáo" hướng dẫn cử tri phải bầu ai, gạch ai. Thậm chí, để dễ nhớ, đỡ nhầm lẫn, họ còn xếp những vị cần được bầu lên đầu danh sách ứng cử viên, bất chấp vần ABC. Khổ thân thay mấy vị được đưa vào danh sách, để có người cho cử tri gạch bỏ. Bây giờ "tế nhị" hơn, nên ít can thiệp thô bạo hơn. Vả lại cũng chẳng cần thiết, vì thường thì tất cả "danh sách chính thức" đều là người của "họ", nên dù cử tri bỏ phiếu cho ai thì những người trúng cử cũng là của "họ" mà thôi.
Vậy là khi bỏ phiếu, nếu không muốn bầu bừa, thì cử tri cũng đành tần ngần trước mấy dòng lý lịch trích ngang… vu vơ như cạm bẫy. Tên tuổi, bằng cấp, chức vụ, danh hiệu, huân huy chương… Những thứ ấy đảm bảo được gì, khi có thể mua hay ngụy tạo? Nếu đọc liệt kê "Ủy viên Trung ương ĐCSVN, Bí thư tỉnh ủy, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân…", thì bạn có thể yên tâm bầu người ấy vào Quốc hội hay không? Song chưa biết chừng đó lại là lý lịch trích ngang của ai đó giông giống Hồ Xuân Mãn, loại được lãnh đạo tối cao hết mực tin tưởng và cất nhắc, nhưng lại bị đồng đội tố cáo là man trá… Thế thì còn biết làm gì, ngoài việc tặc lưỡi chọn bừa mấy cái tên trong danh sách do nhà cầm quyền ấn định? Dân chủ xã hội chủ nghĩa là như vậy sao?
2.4. Nét hài màn chót
Cử tri thông thường chẳng thể biết rõ việc kiểm phiếu có trung thực hay không, nên đối với họ thì vở bầu cử dân chủ kết thúc ở màn bỏ phiếu.
Mặc dù Điều 57 Luật BCĐBQH 1997 quy định rõ ràng, rằng "việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối", nhưng mới sáng sớm chủ nhật tổ bầu cử đã phái người tới mọi ngõ ngách, giục giã cử tri đi bầu cử. Rồi gọi điện thoại nhắc nhở, khiến cử tri chưa đi bỏ phiếu chưa yên. Ấy là cuộc đua, xem tổ nào bầu xong sớm hơn. Những vị cao niên bỗng trở nên hiếu thắng như trẻ thơ. Quá hồn nhiên, họ tưởng rằng mình đang thực thi trọng trách nên có quyền hối thúc, mà quên rằng bao người dân vẫn phải hàng ngày lo chuyện làm ăn, kiếm sống… Có người đang phải ngủ bù vì vừa qua ca làm đêm. Có người phải hối hả vào bệnh viện chăm sóc người thân. Đâu phải ai ai cũng thênh thang thời gian như mấy cụ về hưu, có thể chủ động ngủ sớm dậy sớm để tham gia "ngày hội lớn". Do muốn đạt thành tích xong sớm, người ta chấp nhận một người bỏ phiếu thay cho cả nhà, mặc dù Điều 58 Luật BCĐBQH 1997 (được sửa đổi theo Luật số 63/2010/QH12) quy định rằng "Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay…". Lẽ ra phải tổ chức bầu cử một cách nghiêm túc và tôn trọng quyền tự do của công dân, thì họ lại biến bầu cử thành trò chơi, như thể thi đua dành phiếu bé ngoan.
Cầm lá phiếu trên tay, cử tri lúng túng với câu hỏi bầu ai gạch ai. Nhưng còn lúng túng hơn khi tặc lưỡi bầu, mà chẳng biết làm sao cho khỏi bị lộ, bởi bàn viết phiếu cứ tênh hênh giữa bao người chen chúc. Vai chạm vai, mắt chạm mắt, chỉ vô tình cũng thấy rõ lá phiếu của vị kế bên, huống hồ kẻ rắp tâm theo dõi. Cái tay đeo kính râm có phải là mật vụ không? Phải chăng gã lấc láo kia là tay chân của ứng cử viên mà mình định gạch? Thực hiện quyền bầu cử của công dân, mà cứ phải lấm lét như vụng trộm. Gọi là "bỏ phiếu kín", nhưng chỉ kín khi phiếu đã nằm yên trong thùng. Còn lúc viết phiếu bầu thì khó lòng mà kín nổi, khi không có ca bin hay màn che chắn, để từng cử tri có thể viết phiếu một cách kín đáo. Ngay cả nơi bầu cử đặt tại các cơ quan trung ương giữa lòng Thủ đô Hà Nội cũng thế, nói gì đến nơi rừng rú xa xôi. Thuở xa xưa còn thiếu thốn, dốt nát đã đành. Giờ bước sang thế kỷ 21 đã quá mười năm, mà "bỏ phiếu kín" ở xứ này vẫn chẳng kín được như ở xứ người mấy mươi năm trước. Cổ hủ mãi như vậy là "bi" hay là "hài"?
3.  Căn nguyên từ luật
Trong phần 2, ta đã phác qua mấy nét ký họa đặc tả hình hài dân chủ của bầu cử ở CHXHCN Việt Nam. Nói chung, chẳng cần tìm cội nguồn đâu xa, bởi mức độ dân chủ trong bầu cử là thể hiện tương ứng trạng thái dân chủ của chế độ. Tuy nhiên, trong phần này, ta sẽ đề cập đến mấy căn nguyên từ luật.
(Còn tiếp)

Hoàng Xuân Phú (Bauxitevn)

Không có nhận xét nào: