Triết gia Trần Đức Thảo, một trường hợp phá sản về trí tuệ (Việt Hoàng)


Giáo sư Trần Đức Thảo 1917-1993)9 lúc đương
 thời cổ vũ cho triết lý Karl Marx để rồi cuối đời
chỉ còn lại những lời trăng trối bi ai
 

 “…Để Việt Nam sớm có dân chủ thì chúng ta không nên dành nhiều thời gian và quan tâm cho những trường hợp như triết gia Trần Đức Thảo. Họ có bằng cấp cao, nổi tiếng học giỏi và chịu đựng sự hành hạ của cộng sản… nhưng thử hỏi họ đã làm được gì cho nền dân chủ của Việt Nam?...”
Với thế hệ hậu sinh như thế hệ chúng tôi, cái tên Trần Đức Thảo  khá xa lạ, nhất là khi cái tên đó gắn liền với một danh từ đặc biệt: Triết gia. Sỡ dĩ dư luận lại được dịp nhắc đến ông Trần Đức Thảo là vì tác phẩm “Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối” vừa được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ cho xuất hành. Tác giả là nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh viết lại những gì họ đã thâu băng những câu hỏi của họ và những câu trả lời của ông Trần Đức Thảo trong 6 tháng cuối cùng khi ông sống ở Pháp. Nó ghi lại những suy nghĩ chân thực của ông về 40 năm từ khi ông tình nguyện trở về Việt Nam.

Theo Wikipedia, ông Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917, tại Thái Bình, mất ngày 24/4/1993 tại Paris, quê quán tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường École normale supérieure (Paris). Ông đậu thủ khoa bằng Thạc sĩ triết học (Agrégation de Philosophie, tại Pháp, đây là một học vị chuyên môn trên tiến sĩ, dành cho những tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học), lúc mới 26 tuổi (1942). Năm 1952 ông về nước tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).
Sau một thời gian ngắn, ông bị chính quyền buộc tội vì dính dáng đến nhóm “văn nghệ sĩ phản động” Nhân Văn Giai Phẩm. Ông bị cách chức, cấm giảng dạy và bị giam lỏng gần như là cách ly hoàn toàn với mọi người xung quanh. Năm 1991 ông được nhà nước cho sang Pháp chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Ông mất hai năm sau đó. Đám tang ông được tổ chức rất trọng thể tại Hà

Nội và năm 2000 ông được truy tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về khoa học xã hội.
Cũng như Nguyễn Mạnh Tường, ông Trần Đức Thảo là một hiện tượng đặc biệt của giới trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc. Ông được học triết ở một trường triết hay nhất nước Pháp (và cả thế giới) về Triết: trường Normale Sup. Triết là môn học đào sâu lý luận để cố gắng kết luận một cách chính xác. Ông làm luận án tiến sĩ về môn “hiện tượng luận” (Phénoménologie),bộ môn của triết ngờ vực tất cả và đòi hỏi sự thận trọng tối đa trong lý luận. Vậy mà ông Trần Đức Thảo lại có thể say mê Karl Marx, và trở thành người cổ vũ cho cho một tư tưởng hồ đồ và độc hại là chủ nghĩa Marx.
Một triết gia đương đại của Việt Nam là ông Bùi Văn Nam Sơn nhận xét rất đúng về Trần Đức Thảo: “Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới. Đi cụ thể vào tư tưởng, thành tựu của Trần Đức Thảo thì khác. Có lẽ do bối cảnh đặc thù, không có điều kiện tiếp thu với bên ngoài cộng hưởng nhiều yếu tố dị biệt của thời cuộc đã khiến cho Trần Đức Thảo không còn thấy những chân trời của cụ. Cụ không còn mở cửa đối thoại mà tự giao cho mình trách nhiệm phòng vệ: bảo vệ cái có sẵn, cái gì xa lạ là bác bỏ thay vì tiếp thu cái mới để có thể phê phán hay không đồng ý nhưng sẽ phát triển. Mà điều này không đúng với tinh thần của một triết gia. Triết gia là phải tranh luận để tiếp tục, để mở thêm những chân trời chứ không phải để khép lại các chân trời. Không ai dám phủ nhận chất lượng triết học của bản thân Trần Đức Thảo, nhưng đáng tiếc, có thể nói Trần Đức Thảo là tù nhân của bản thân”.
Cuộc đời của triết gia Trần Đức Thảo quả là bi thương. Gần như suốt trong 40 năm sau ngày trở về nước “phục vụ cách mạng”, hình ảnh của ông là “…lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…” Phùng Quán (chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo).
Chuyện gì đã xảy ra với một trí thức lớn như vậy? Theo cách giải thích thông thường của người đời và những người yêu mến ông là do ông có hiểu biết rộng nên ông đã không đồng tình với nhiều quan điểm của đảng cộng sản. Ông cũng đã viết và công bố ít nhất hai bài báo về tư tưởng tự do và dân chủ… Chính vì thế mà đảng cộng sản trả thù ông, hành hạ ông như đã từng làm với bao nhiêu người bất đồng chính kiến khác, từ xưa đến nay. Tuy nhiên có câu hỏi đặt ra là: “Tại sao có những người giỏi như vậy mà lại trao duyên lầm tướng cướp”?
Nhân buổi trao đổi về triết gia Trần Đức Thảo, một ý kiến trong Tập Hợp cho rằng “Ai cũng có sai lầm, nhưng tại sao các ông đại trí thức mà lại có thể sai lầm về cộng sản hơn cả đám dân đen đến như vậy? Nếu các ông trí thức này vẫn kiên trì đi theo cộng sản cho tới khi các ông xuống lỗ, thì mọi người sẽ ít ngạc nhiên hơn, vì cho là các ông sai lầm. Thế nhưng, những ông “trí” này, vào một lúc nào đó, thường là về cuối cuộc đời, các ông bỗng hô lên là các ông bậy, các ông lầm, cộng sản là xấu, là sai...! Có khác nào các ông tự chửi lại chính mình? Thì ra cái gọi là “trí thức” lại không "trí” gì cả, và mấy cái giấy gọi là bằng cấp dường như chẳng thể dùng để đo sự hiểu biết của các ông “đại trí”. Như vậy, có lẽ các ông không ngu đến cỡ đó, và ngoài cái “ngu trí thức”, các ông "trí " này, lúc còn phong độ, ắt có sự “mót” chút công danh. Các vị này đi theo cái ác, để mưu cầu danh vọng. Nếu đúng như thế, thì các ông như quý ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Như Tảng, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát... và các quý bà như Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá Thành... khó có thể nhận được sự tôn trọng của người đời…”.
Những vị này có bằng cấp cao nhưng không có nghĩa là họ giỏi. Bằng cấp, kể cả bằng tiến sĩ, đều chỉ cho ta những căn bản để học hỏi tiếp. Cũng có thể những người này do dấn thân quá sớm vào đảng cộng sản rồi bị giữ chặt không thoát ra được và cũng không có phương tiện để học hỏi thêm nữa. Ông Trần Đức Thảo đã có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh thế nhưng ông lại cổ vũ và đi theo chủ nghĩa Mac-Lênin. Đây quả là một “trường hợp phá sản trí tuệ không thể tha thứ”, vì “Sự sai trái và độc hại của chủ nghĩa Mác-Lênin không khó nhìn thấy và nhiều nhà bình luận đã thấy ngay từ đầu và đã vạch ra một cách rất rõ ràng. Tuy vậy cho đến thập niên 1970 nó vẫn lôi kéo được một số đông người, kể cả một số trí thức xuất sắc. Lý do là vì vấn đề mà nó nêu ra cũng là vấn đề mà lương tâm con người đặt ra từ rất lâu mà vẫn chưa có giải đáp, đó là bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo. Kể từ khi bắt đầu văn minh, thế giới luôn luôn phải sống trong một mâu thuẫn nhức nhối giữa những tư tưởng quảng đại coi mọi người là anh em và một tổ chức xã hội phân biệt chủ và tớ. Và thời nào cũng có những người ao ước xóa bỏ mâu thuẫn nhức nhối đó. Trong nhiều trường hợp chính lòng quảng đại đã khiến người ta tiếp tay cho tội ác. Chủ nghĩa Marx là một giải pháp sai và độc hại nhưng vấn đề nó đặt ra có thực. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là sự vận dụng tư tưởng của Marx cho mục tiêu cướp và giữ chính quyền bằng bạo lực và khủng bố”. (Nguyễn Gia Kiểng - Nhìn lại chủ nghĩa Mác-Lênin)
Đến đây, thiết nghĩ cần nhắc lại một định luật nổi tiếng “2 trong 3”: Lương thiện, Hiểu biết và Cộng sản. Trong ba thứ đấy luôn luôn chỉ có hai thứ là đi được với nhau. Vậy trường hợp ông Trần Đức Thảo là ngoại lệ chăng? Khi ông vừa “có hiểu biết, lương thiện và lại là cộng sản”. Rõ ràng là ông Trần Đức Thảo tự nguyện về Việt Nam để chống Pháp và kể cả sau khi bị bạc đãi ông vẫn chấp nhận cuộc sống khốn khổ đó mà không hề có ý định thoát thân. Năm 1985 khi sang Đức chữa bệnh và làm việc ông có thể xin tị nạn nếu muốn. Sau này khi qua Pháp định cư năm 1991 ông vẫn ở trong nhà khách sứ quán chứ không thoát hẳn ra bên ngoài, một việc ông có thể làm được nếu muốn. Ngay cả trong hai năm cuối đời đó ông cũng không viết được gì. Tác phẩm “Trần Đức Thảo-những lời trăng trối” là cũng do bạn hữu ông bí mật ghi lại trong các buổi trò chuyện với ông. Ngay cả lý do khiến ông bị thất sủng cũng có thể vì một lý do khác, đôi khi chỉ vì những người cộng sản lãnh đạo ghen tỵ với bằng cấp của ông nên trù dập ông chứ không phải vì ông chống đối họ.

Nếu có ai đó vẫn cho rằng ông Trần Đức Thảo là người cộng sản lương thiện và hiểu biết thì quả thực đây là một trường hợp phá sản hoàn toàn của trí tuệ Việt. Chúng ta có thể tha thứ được cho Lê Đức Anh hay Đỗ Mười vì họ xuất thân rất tầm thường và không có điều kiện ăn học đến nơi đến chốn nhưng không thể tha thứ cho một người có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh như Trần Đức Thảo.

Nếu có ai đó vẫn cho rằng ông Trần Đức Thảo là người cộng sản lương thiện và hiểu biết thì quả thực đây là một trường hợp phá sản hoàn toàn của trí tuệ Việt. Chúng ta có thể tha thứ được cho Lê Đức Anh hay Đỗ Mười vì họ xuất thân rất tầm thường và không có điều kiện ăn học đến nơi đến chốn nhưng không thể tha thứ cho một người có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh như Trần Đức Thảo. Nếu trí thức Châu Âu cũng hồ đồ (khi chọn chủ nghĩa Marx) như ông thì thử hỏi thế giới sẽ đi về đâu?
Giải thích cho hiện tượng này chỉ còn cách duy nhất, đó là do văn hóa Khổng Giáo đã ăn sâu vào não trạng trí thức Việt hàng ngàn năm nay và vẫn chưa gột rửa được: Trí thức Việt Nam sinh ra là để phục vụ (làm tôi tớ) thay vì (làm) trí thức lãnh đạo. Để Việt Nam sớm có dân chủ thì chúng ta không nên dành nhiều thời gian và quan tâm cho những trường hợp như triết gia Trần Đức Thảo. Họ có bằng cấp cao, nổi tiếng học giỏi và chịu đựng sự hành hạ của cộng sản… nhưng thử hỏi họ đã làm được gì cho nền dân chủ của Việt Nam? Cho sự tiến bộ của xã hội? Hãy dành sự quan tâm thích đáng và cần thiết cho những người đang dấn thân ngày hôm nay. Nhất là những người đã dứt bỏ được di sản của văn hóa Khổng giáo, những người thay vì tìm kiếm sự nổi tiếng cho bản thân đã can đảm tìm đến với nhau, tập hợp lại với Sau khi tôi giới thiệu trên VOA cuốn sách Trần Đức Thảo nhau để đi tìm một mô hình chính trị mới cho dân tộc bằng sự kiên nhẫn và thuyết phục để có được sự đồng thuận chung, trên những vấn đề chung của đất nước và của tất cả mọi người Việt Nam.

Việt Hoàng

Không có nhận xét nào: