Hoàng Tâm Nguyên


Cẩm nang Dân chủ Đa nguyên
Hoà giải và hoà hợp dân tộc

1/ Những minh định cần thiết về từ ngữ
Lập trường được bàn đến là ''Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc'' chứ không phải ''Hòa Hợp Hòa Giải''.
Hai cụm từ này hoàn toàn khác nhau về khái niệm và trong thứ tự của tiến trình. Cần phân biệt rõ ràng, nhất là khi cuộc tranh luận lại thường xoay quanh vấn đề từ ngữ.

-Hòa giải là tháo gỡ những hận thù và hiềm khích để tiếp tục sống chung với nhau.
-Hòa hợp là tìm đến nhau, quí mến và hợp tác với nhau trong không khí hài hòa.
Như thế, khi giữa các cá nhân hay giữa các tập thể đã có sự xung đột và bất hòa thì hòa giải phải được thưc hiện trước, hòa hợp chỉ có thể đạt được sau khi đã thành công trong việc hòa giải. Nói như thế không có nghĩa là hễ cứ hòa giải xong là tự nhiên sẽ có hòa hợp. Còn cần nhiều cố gắng to lớn khác mới đi được đoạn đường từ chỗ ''không hận thù nhau nữa'' đến chỗ ''quí mến nhau và hợp tác với nhau''. Hòa hợp dân tộc, hay đoàn kết dân tộc cũng thế, là mục đích. Hòa giải là một chặng đường cần thiết để đi đến hòa hợp.
Chắc chắn là dân tộc Việt Nam cần hòa hợp để cùng đưa đất nước ra khỏi thua kém và vươn lên. Vì thế chúng ta mới cần hòa giải để có hòa hợp. Nếu chúng ta không quan tâm tới tương lai đất nước, và do đó không cần hòa hợp, thì chúng ta cũng chẳng cần hòa giải làm gì. Hòa giải và hòa hợp như vậy là hai ý niệm khác nhau về nội dung và thứ tự.
Chữ ''và'' trong cụm từ ''Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc'' cũng cần thiết.
Cụm từ ''Hòa Hợp Hòa Giải'' hoàn toàn vô nghĩa. Nó lẫn lộn hai khái niệm khác nhau về nội dung, nó đảo ngược thứ tự tự nhiên, giống như đặt cái cày lên trước con trâu. Nó cần được xóa bỏ dứt khoát và vĩnh viễn để khỏi gây lẫn lộn trong một cuộc thảo luận vốn đã tế nhị.
"Dân tộc'' vừa là người chủ động vừa là đối tượng của hòa giải và hòa hợp. Mặc dầu cụm từ ''hòa giải hòa hợp dân tộc'' đã được nhắc lại nhiều lần, vẫn có nhiều người chất vấn ''hòa hợp hòa giải với ai?''; vẫn có những người lên án ''bọn chủ trương hòa hợp hòa giải với cộng sản'', hay ngộ nghĩnh hơn nữa, ''bọn chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc với cộng sản''! Lẫn lộn trong từ ngữ là một hiện tượng chứng minh rằng vấn đề chưa được suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh.
Đến đây xin nhắc lại, lập trường ''hòa giải và hòa hợp dân tộc'' có mục tiêu hòa giải người Việt Nam với nhau để tiến đến hòa hợp dân tộc, nghĩa là tiến đến tình trạng trong đó người Việt tin tưởng và quí trọng nhau để cùng bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung.
Hòa giải và hòa hợp dân tộc là vấn đề tình cảm giữa người và người, chứ không phải giữa các lực lượng và phe phái. Giữa các lực lượng và phe phái cùng lắm chỉ có vấn đề hợp tác hay thỏa hiệp.

2/ Sự liên đới phải có của một dân tộc
Dân oan là ví dụ điển hình của tình trạng một tập thể thiếu liên đới ở Việt Nam. Hầu hết, dân oan là những người bị cướp đất, cướp nhà. Những tiết lộ từ chính những quan chức nhà nước cho biết số hồ sơ khiếu kiện có thể lên đến một triệu, tất cả đều là những khiếu kiện chính đáng và chỉ có rất ít trường hợp được giải quyết thỏa đáng. Họ rủ nhau về Sài Gòn và Hà Nội khiếu kiện nhưng không có đòi hỏi chung, mỗi người đến với một đơn khiếu kiện riêng. Những người dân oan thiếu liên đới với nhau trong một yêu sách chung và không có tổ chức nên không có sức mạnh và niềm tin tập thể để có thể đấu tranh bền bỉ và mạnh mẽ buộc chính quyền phải nhượng bộ. Một ngàn người cùng chung số phận nhưng không gắn bó với nhau trong một mục đích chung nên vẫn chỉ là một ngàn người cô đơn và bất lực. Những chiếc đũa rời rạc chưa chụm lại thành một bó đũa nên vẫn gẫy từng chiếc một.
Bên cạnh đó, trong xã hội mới chỉ có hoạt động yểm trợ dân oan biểu tình chứ chưa có biểu tình yểm trợ dân oan. Những oan ức của dân oan hình như chỉ là vấn đề của riêng các nạn nhân. Đây mới chính là thảm kịch quốc gia, lớn hơn cả thảm kịch dân oan: nó chứng tỏ rằng xã hội Việt Nam là một xã hội không liên đới, một xã hội rã hàng, một đám đông cô đơn. Khối nạn nhân này chỉ có thể thắng khi ý thức được họ là một tập thể gắn bó chung số phận, lối thoát duy nhất là phải liên kết tác chiến; không có lối thoát cá nhân, xé lẻ. Muốn gầy dựng tinh thần gắn bó giữa mọi người, muốn tái cấu trúc sự cảm thông giữa mỗi người, muốn tái thiết giềng mối xã hội thì cần triệt để thực thi chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc. Hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng là liều thuốc hữu hiệu nhất để củng cố lòng yêu nước ở mọi người, vì yêu nước là gì nếu không là yêu thương nhau?
Cần nhắc lại bản chất của chế độ này: như mọi chế độ toàn trị, nó đặt nền tảng trên một mâu thuẫn lớn. Về mặt hình thức, nó đề cao chủ nghĩa tập thể, phủ nhận vai trò của cá nhân, tập trung mọi quyền lực vào tay một nhà nước tự xưng là đại diện của tập thể, nhưng về mặt thực tế nó lại cổ võ cho một thứ chủ nghĩa cá nhân ở dạng thấp nhất: chủ nghĩa luồn lách, nghĩa là lối sống trong đó mỗi người tìm cách giải quyết những vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân. Nó cấm đoán mọi kết hợp của người dân để biến quần chúng thành một đám đông cô đơn và do đó bất lực. Một cách bệnh hoạn, nó coi “công dân tốt” là những người chỉ biết có cá nhân mình và coi mọi kết hợp của người dân như là những mối nguy hiểm cần phải đập tan từ trong trứng nước. Và để thành công trong mưu toan này, chế độ hiện nay cố gắng phủ nhận nhu cầu hòa giải giữa người Việt Nam.
Một dân tộc không liên đới là một dân tộc không có tương lai. Không có một cố gắng hòa giải và hòa hợp dân tộc thành thực và triệt để thì các mâu thuẫn sẽ tích lũy nhanh chóng và đà tăng trưởng sẽ khựng lại nhường chỗ cho khủng hoảng. Chúng ta hiện rất thiếu liên đới, tương lai chúng ta bị đe dọa. Trong hiện tại, đó là lý do tại sao cuộc đấu tranh giành tự do và dân chủ không mạnh lên được. Nếu không có liên đới dân tộc thì chúng ta không thể nào tiến xa được vì sẽ không thực hiện được mục tiêu quốc gia nào cả, kể cả đấu tranh cho dân chủ, vì dân chủ là một vấn đề quốc gia.
Nói tóm lại Hòa giải là viên gạch đầu tiên để tái thiết mối liên đới mà dân tộc nào cũng cần có, nhất là dân tộc Việt Nam.

3/ Các đối tượng cần hòa giải
Khách quan nhận diện số phận của đất nước, qua những thăng trầm lịch sử của dân tộc, chúng ta nhất định sẽ đi đến một kết luận: Người Việt Nam là một dân tộc cần hoà giải hơn bất cứ dân tộc nào.
- Chúng ta cần hòa giải giữa những người đã đứng trong hai phe quốc gia và cộng sản. Đó là đổ vỡ to lớn nhất và đau nhức nhất. Vết thương vẫn còn đang chảy máu. Để hàn gắn, chúng ta cần một nhận định khiêm tốn và sáng suốt. Trong cuộc xung đột đẫm máu vừa qua có thể nói, trừ một thiểu số nông cạn, đại bộ phận người Việt đã không có một chọn lựa vừa ý. Chúng ta đã không say mê tranh đấu cho một lý tưởng mà mình thấy là đẹp; trong đại bộ phận chúng ta đã chỉ chống lại một lực lượng mà sau nhiều cân nhắc, do dự chúng ta thấy còn tồi tệ hơn hàng ngũ mà chúng ta đang đứng. Người không chịu đựng nổi sự tồi tàn của các chính quyền phe quốc gia thì ngả theo đảng cộng sản, mặc dầu cũng thừa biết sự tàn bạo và độc đoán của nó. Còn người thấy rằng để đảng cộng sản nắm được chính quyền là một tai họa quá lớn cho đất nước thì cũng chỉ ngậm ngùi mà ủng hộ các chính quyền quốc gia. Anh em ruột thịt, bạn bè thân thích đã chỉ vì một sự lượng định thời cuộc nặng nhẹ khác nhau; hay đáng buồn hơn nữa, chỉ vì hoàn cảnh mà đã phải quay lưng lại với nhau, mạt sát nhau và bắn giết nhau trong ba thập niên. Đổ vỡ tình cảm còn lớn hơn cả đổ vỡ vật chất và sinh mạng. Để rồi ngày nay đất nước như thế này, tất cả chúng ta đều đã thất bại, tất cả chúng ta đều là nạn nhân. Chẳng ai hơn ai, chẳng có ai có vị thế để lên án và buộc tội ai. Những người đã chọn lựa đứng ngoài mọi biến động của đất nước lại càng không có vị thế để chê trách ai. Cũng không thể đổ lỗi hết cho hoàn cảnh và các thế lực quốc tế. Chúng ta không có chọn lựa tốt bởi vì chúng ta kém cỏi. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Hòa giải với nhau để cùng làm lại đất nước chỉ là một lẽ tự nhiên và một thái độ lương thiện.
-Chúng ta cần hòa giải các sắc tộc ít người với người Kinh, vì trong suốt dòng lịch sử, các vua chúa và chính quyền người Kinh chỉ biết dùng bạo lực để thống trị các sắc tộc ít người mà hầu như chưa bao giờ chứng tỏ một trách nhiệm và sự tôn trọng cần thiết đối với họ. Chính sách thô bạo này đã khiến các sắc tộc thiểu số hoàn toàn dửng dưng với đất nước Việt Nam.
-Chúng ta cần hòa giải giữa miền Nam và miền Bắc, vì trong hàng thế kỷ hai miền đã bị ngăn chia trong thế tương tranh, làm cho người hai miền trở thành xa lạ và ngờ vực, có khi nhìn nhau như kẻ thù. Phải rất thận trọng. Chúng ta đang đòi hỏi bầu cử tự do và thế nào rồi cũng sẽ có bầu cử tự do. Nhưng cuộc bầu cử tự do đầu tiên có thể chỉ công khai hóa sự rạn nứt: đảng cộng sản có thể sẽ được 30% tại miền Bắc trong khi không được gì tại miền Nam. Và một cách tương tự, tại quốc hội cũng sẽ có những đảng miền Bắc và những đảng miền Nam.
-Chúng ta cần hòa giải giữa người Công giáo và người Phật giáo vì hai tôn giáo đã bị những thế lực chính trị đặt vào thế đối đầu trong hơn một thế kỷ và vẫn có những phần tử muốn lợi dụng sự chia rẽ này cho tham vọng phe nhóm. Chúng ta có một thảm kịch trong đó hàng trăm ngàn người Công giáo đã bị bách hại vì tín ngưỡng của họ và cho tới nay vẫn chưa có biện pháp hàn gắn nào. Hơn một thế kỷ vẫn còn những người cho hành động đánh các họ đạo của các phe Cần Vương, Văn Thân là đúng. Đảng cộng sản đã khai thác tối đa sự chia rẽ lương - giáo; trong khi trước đó, chính sách tôn sùng Công giáo một cách lố lăng của chính quyền Ngô Đình Diệm vốn đã mở rộng thêm vết thương.
-Chúng ta phải hòa giải cộng đồng người Việt hải ngoại với đất nước, vì sự ra đi của họ đã là một sự ra đi trong tủi hờn. Tất cả ra đi vì thất vọng đối với quê hương, đại đa số đã ra đi sau khi bị hắt hủi và chà đạp, một số đông đã phải chịu đựng những khổ đau và mất mát rất to lớn trên đường vượt biên vì công an, hải tặc, sóng gió. Đối với phần đông người Việt hải ngoại, đất nước là một kỷ niệm đau buồn cần phải quên đi. Hòa giải giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và đất nước phải có vì nhu cầu tình cảm nhưng cũng cần thiết về mặt thực tiễn bởi vì cộng đồng người Viêt hải ngoại là một tiềm năng đầy hứa hẹn cho đất nước cần được khai thác triệt để.
Chắc chắn chưa liệt kê hết những đổ vỡ lớn cần được hàn gắn, nhưng nếu chúng ta giải quyết được tạm ổn những khúc mắc được nêu trên thì tương lai của chúng ta cũng sẽ khá hơn hẳn. Thật vậy, tất cả những chia rẽ đó làm kiệt quệ sinh lực quốc gia và đã khiến chúng ta là chúng ta ngày nay, nghĩa là một dân tộc – tuy không lười biếng, không tối dạ và cũng không bị thiên nhiên quá ngược đãi – nhưng lại thua kém thế giới một cách bi đát và, tệ hơn nữa, vẫn chưa trút bỏ nổi ách độc tài ô nhục trên lưng.

4/ Một triết lý điều hành quốc gia
Quan trọng hơn hết, nhưng tiếc thay nhiều người lại không nhìn thấy, chúng ta phải hòa giải người và đất nước Việt Nam. Phải nói rằng làm người Việt Nam trong suốt thế kỷ này đã chỉ là chịu đựng và nhục nhằn. Tổ quốc đã chỉ là chiến tranh, đói khổ, thua kém và công an, khi không phải là nhà tù và các đội hành quyết.
Người ta không nhân danh tổ quốc để quí mến và nâng đỡ nhau. Trái lại, chúng ta chỉ vay mượn ý niệm tổ quốc để lên án và tiêu diệt nhau. Tổ quốc đã được sử dụng để biện minh cho quá nhiều tội ác. Tất cả những thất vọng, oan ức, tủi nhục đã khiến cho tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của người Việt Nam chúng ta xuống rất thấp, thấp ở mức độ cực kỳ báo động. Mộng ước của rất nhiều người Việt Nam hiện nay chỉ giản dị là được bỏ nước ra đi làm công dân một nước khác. Mà khi đã thiếu lòng yêu nước thì không có vấn đề nào có thể giải quyết được.
Muốn phục hồi lòng yêu nước, bước đầu tiên vẫn là hòa giải: Hòa giải người Việt Nam với người Việt Nam; hoà giải người Việt Nam với đất nước Việt Nam. Trong chiều hướng đó, một chính quyền có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho mọi nạn nhân trong cuộc chiến vừa qua. Cũng cần phục hồi danh dự cho những người đã bị bách hại, hạ nhục hay giam cầm trong suốt thời gian đất nước được thống nhất. Đây không chỉ là một nhu cầu "để đoàn kết toàn dân" mà là một bắt buộc của luật pháp và đạo đức chính trị.
Chính sách này phải được thi hành một cách dứt khoát và quả quyết để xoa dịu những vết thương và để tạo điều kiện tốt cho tinh thần hòa giải được phát huy. Ở khâu này, có lẽ nên đặc biệt dành quan tâm đến những nhân vật tranh đấu ôn hòa cho tự do, dân chủ và chủ quyền quốc gia. Những người này chỉ hành xử những quyền tự nhiên và căn bản. Vậy mà họ đã trở thành nạn nhân của sự vô đạo và vô lý của chính quyền.
Tới đây, chúng ta có thể định nghĩa hòa giải dân tộc một cách chính xác hơn: Hòa giải là tình cảm, xuất phát từ lòng yêu nước, của một dân tộc quyết tâm sống chung và xây dựng với nhau một tương lai chung mặc dầu đã trải qua nhiều đổ vỡ. Đây là một cuộc phấn đấu, bằng sự nhường nhịn và bằng cố gắng thuyết phục bền bỉ, để vượt lên trên di sản lịch sử và đập tan những trở ngại ly tâm chia rẽ dân tộc. Hòa giải là phản ứng tự vệ của một dân tộc trước nguy cơ tan rã.
Cũng cần hiểu rằng trong thế giới ngày nay những tiến bộ khoa học kỹ thuật làm xáo trộn không ngừng mọi quốc gia, lúc nào cũng có những ngành nghề vươn lên trong khi những ngành khác suy thoái, lúc nào cũng có những thành phần dân tộc được may mắn trong khi những thành phần khác bị thiệt thòi. Một chính sách dù công bình và hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể làm vừa lòng mọi người, luôn luôn có những người thỏa mãn và những người bất mãn. Cho nên quốc gia nào, dân tộc nào cũng liên tục phải hòa giải để phá tan những mối bất hòa liên tục xảy ra. 
Hòa giải đã trở thành một triết lý điều hành quốc gia, chưa nói một quốc gia đã trải qua nhiều xung đột đẫm máu như Việt Nam.

(Còn tiếp một kỳ)
Hoàng Tâm Nguyên

Không có nhận xét nào: