Hoàng Tâm Nguyên

Bài 5. Chủ nghĩa Marx-Lênin và đảng Cộng sản
“…Một đặc tính cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin là nó không nhắm xây dựng quốc gia mà trái lại còn chủ trương tiến tới sự giải thể các quốc gia. Việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam đã là một sai lầm đẫm máu…” (Nguyễn Gia Kiểng)
Trái với một huyền thoại được tạo ra và nuôi dưỡng, các đảng cộng sản không phải là những phong trào quần chúng. Chúng không được thành lập để tranh thủ hậu thuẫn quần chúng mà để lợi dụng một tình trạng khủng hoảng để cướp chính quyền(chính ông Hồ Chí Minh chứ không ai khác dùng cụm từ "cướp chính quyền" năm 1945). Trong suốt lịch sử của phong trào cộng sản thế giới chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu cử lương thiện nào. Cũng chưa hề có một đảng cộng sản nào đem lại phồn vinh cho một quốc gia nào.
1/Chủ nghĩa Marx: chiếc áo đẹp của tên sát nhân
Sức mạnh của phong trào cộng sản là một khám phá của Lenin không liên quan gì tới Marx. Lenin là một tay khủng bố chuyên nghiệp- anh ruột bị xử tử sau một vụ khủng bố trong đó chính ông cũng tham gia và bị đày đi Siberia - và hiểu hiệu lực ghê gớm của khủng bố. Thiên tài của Lenin là đã nhìn thấy rằng một tổ chức khủng bố có thể cướp được và sau đó giữ được chính quyền nếu hội đủ hai điều kiện. Một là nó dám khẳng định như một đạo đức thay vì cúi mặt nhận mình là đạo tặc và như thế cần được phục sức bằng một chủ thuyết bề ngoài có dáng dấp của lý tưởng cao cả; chủ nghĩa Marx đã có vai trò chiếc áo đẹp của tên sát nhân. Hai là nó dám đẩy tới tận cùng logic khủng bố, nghĩa là khủng bố toàn bộ xã hội, khủng bố cả thân xác lẫn tinh thần và trí tuệ. Cấm suy nghĩ, xóa bỏ thông tin, sự dối trá phải được độc quyền ngôn luận nếu không muốn trở thành vô hiệu lực và vô duyên.
Đặc tính chung của mọi đảng cộng sản, không trừ một ngoại lệ nào, là sau khi đã cướp được chính quyền chúng dần dần hoá thân thành một giai cấp bóc lột. Lý do là vì chủ nghĩa Marx hoàn toàn không phải là một lý thuyết điều hành quốc gia. Ngoài những xác quyết và những hứa hẹn hoàn toàn không liên quan gì đến những việc phải làm và phương thức để làm (vật chất có trước tinh thần, lịch sử nhân loại là đấu tranh giai cấp, làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu v.v.) nó không có gì cả. Người ta không tìm thấy trong chủ nghĩa Marx một hướng giải quyết cho một vấn đề nào cả, dù là ngân sách hay giáo dục hay bất cứ một vấn đề nào khác. Chế độ cộng sản chỉ là sự tùy tiện- Lenin từng khẳng định "chính quyền cách mạng" không lệ thuộc bất cứ một luật pháp nào. Hơn thế nữa nó còn là sự tùy tiện của những người không hiểu biết bởi vì cũng theo Lenin bất cứ đảng viên cộng sản nào chỉ cần biết đọc biết viết cũng có thể làm công tác lãnh đạo. Trong những điều kiện như vậy chính quyền trở thành bộ máy cướp bóc và đảng cầm quyền trở thành một giai cấp bóc lột là điều tự nhiên và bắt buộc.
Điều đau đớn và hổ nhục nhất là chủ nghĩa cộng sản đã được du nhập vào Việt Nam 75 năm sau khi nó đã bị từ bỏ như một sai lầm ngớ ngẩn tại châu Âu, và dù vậy vẫn toàn thắng 30 năm sau đó. Không những thế nó còn tiếp tục tồn tại, sau khi hóa thân thành một chính quyền cướp bóc, như là một thách đố đối với trí tuệ và phẩm giá của người Việt Nam mà không gặp một chống đối đáng kể nào. Trước mặt nó vẫn chưa có một lực lượng dân chủ có tầm vóc.
Trước một thực tại thách đố như vậy người ta có thể phản ứng theo nhiều cách. Có thể đầu hàng, thậm chí bất chấp đạo đức và liêm sỉ để hùa theo chính quyền và cầu danh lợi; có thể nhẫn nhục chịu đựng và luồn lách để sống như đa số quần chúng; và cũng có thể đấu tranh để thay đổi xã hội. Nhưng một điều chắc chắn là không thể cầu xin, khuyên can, đề nghị. Chế độ này đã chứng tỏ rõ ràng là họ chỉ thay đổi trước áp lực. Cuộc "đổi mới" về kinh tế thị trường năm 1986 cũng đã chỉ có vì chế độ cộng sản đã tựa lưng vào tường, khẩu hiệu của họ lúc đó là "đổi mới hay là chết". Như vậy các kiến nghị, tuyên ngôn, thư ngỏ chỉ có ý nghĩa nếu được quan niệm là nhằm tạo áp lực, nghĩa là nằm trong khuôn khổ của cuộc đấu tranh dân chủ hóa, nghĩa là nếu có đấu tranh.
Từ khi chủ nghĩa cộng sản và khái niệm chủ nghĩa nói chung sụp đổ, tất cả các chế độ độc tài đều trở thành nhảm nhí; chúng không còn gì để đề nghị và thuyết phục, thậm chí để lừa bịp. Chúng chỉ còn là những tập đoàn trấn lột thuần túy dựa trên đàn áp.
2/Bản chất chủ nghĩa cộng sản
Phong trào cộng sản đã ra đời như một phong trào dân chủ. Các chế độ cộng sản được thành lập sau Thế Chiến II đều tự xưng là dân chủ hoặc nhân dân, hai từ "dân chủ" và "nhân dân" được coi là đồng nghĩa: Cộng Hòa Dân Chủ Đức, Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa v.v. Chế độ diệt chủng Pol Pot có tên là Campuchia Dân Chủ.
Chúng thuần túy là những chế độ cướp bóc không nhân danh một lý tưởng nào hay một dự án chính trị nào, hoàn toàn dựa trên đàn áp để tồn tại. Và muốn đàn áp dễ dàng thì tập đoàn cầm quyền phải mạnh và ngược lại quần chúng phải yếu. Bóc lột và bất công phải gia tăng vì nằm ngay trong logic tồn tại của chế độ. Nhưng đây một logic tự sát, vì nó càng khiến chế độ bị thù ghét hơn trong khi dù muốn hay không chính sách mở cửa kinh tế cũng khiến xã hội mạnh hơn và có khả năng phản kháng hơn.
Một đặc tính cơ bản của chủ nghĩa Marx-Lenin là nó không nhắm xây dựng quốc gia mà trái lại còn chủ trương tiến tới sự giải thể các quốc gia. Việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam đã là một sai lầm đẫm máu. Và quả thực lá cờ này đã đẫm quá nhiều máu Việt Nam, máu của những người yêu nước không cộng sản, máu của hàng trăm nghìn nạn nhân của đợt Cải Cách Ruộng Đất, máu của gần năm triệu người trong cuộc nội chiến thảm khốc v.v. Quá nhiều máu! Từ hơn 35 năm qua nó là lá cờ của một chế độ độc tài bạo ngược, chống dân chủ và nhân quyền tới cùng, dành độc quyền cho một thiểu số, loại bỏ đại bộ phận dân tộc khỏi vận mệnh đất nước. Cờ đỏ sao vàng không thể là quốc kỳ của một nước Việt Nam dân chủ và hòa giải. Nhưng thay đổi nó không phải là dễ và cũng chỉ có thể thực hiện sau khi đất nước đã có dân chủ.
3/Triết lý Marx-Lenin và đạo đức
Triết lý Marx-Lenin là của Marx với sự đóng góp của Engels, Lenin chỉ phụ họa và khai thác. Nó chủ yếu là Duy vật Biện chứng và Duy vật Lịch sử, những điểm khác không đáng kể.
Marx phủ nhận hoàn toàn các giá trị đạo đức như là sản phẩm của giai cấp thống trị. Marx nói rằng mỗi kết thúc của một giai đoạn đấu tranh giai cấp - từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội cộng sản qua các chế độ nô lệ, quân chủ, phong kiến, tư bản - đều là những tiến bộ; khái niệm "tiến bộ" này hoàn toàn mơ hồ vì không có những tiêu chuẩn để định nghĩa. Đó là một sự tùy tiện tuyệt đối, với hậu quả là kẻ có bạo lực có thể làm tất cả. Mọi đảng cộng sản đều có bản chất khủng bố, đó là nền tảng chính tạo ra sức mạnh của chúng. Marx không coi việc giai cấp thống trị bóc lột giai cấp bị trị là một tội ác, trái lại ông coi nó là một lẽ tự nhiên, cũng tự nhiên như việc giai cấp bị trị phải vùng dậy tiêu diệt giai cấp thống trị. Triết lý này đã khiến Lenin định nghĩa đạo đức như sau: "Đạo đức là những gì hợp với quyền lợi của cách mạng". Cách mạng theo Lenin là đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp là nội chiến. Ông nói: "Nội chiến là sự tiếp nối, phát triển và tăng cường độ tự nhiên của đấu tranh giai cấp". Trong suốt cuộc đời ông Lenin không ngừng nhắc lại rằng nội chiến là tinh thần cốt lõi của phong trào cộng sản. Điều này giải thích tại sao các đệ tử của ông tại Việt Nam đã quyết định một cách rất bình thản cuộc nội chiến "giải phóng miền Nam" bất kể với giá nào, dù cho, như lời ông Hồ Chí Minh, "Sông có thể cạn, núi có thể mòn".
Triết lý Marx-Lenin quan trọng ở chỗ nó tạo ra cả một văn hóa và một tâm lý cộng sản. Biện chứng duy vật là một lối lý luận rất sơ đẳng. Nó tạo ra ảo tưởng rằng ngay cả những người vô học cũng có thể lý luận trên tất cả mọi vấn đề, và do đó đảm nhiệm những vai trò lãnh đạo, nếu biết biện chứng duy vật. Từ đó hình thành một tâm lý võ biền coi thường kiến thức. Chính Lenin cũng đã có tâm lý này. Sau Cách Mạng 1917 ông tuyên bố bất cứ ai chỉ cần biết đọc biết viết cũng có thể làm công tác tổ chức và chỉ đạo. Kết quả bi đát đã buộc Lenin phải đổi ý kiến, nhưng tâm lý coi thường sự học và đặt vào địa vị lãnh đạo những người táo bạo nhưng ít học vẫn còn nguyên trong mọi đảng cộng sản. Và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Từ ngày thành lập tất cả những người có thực quyền trong đảng cộng sản đều chỉ có trình độ văn hóa thấp. Sau giai đoạn được gọi là đổi mới, hai nhân vật Đỗ Mười và Lê Đức Anh là những người lãnh đạo tối cao; những người có quyền lực nhất trong bộ chính trị cũng có cùng một chân dung. Sự thay đổi tuy có nhưng rất hời hợt: người ta cấp phát học vị cho những cấp lãnh đạo. Những người có thực học vẫn không phải là những người có thực quyền.
Sự phủ nhận những giá trị đạo đức, một đặc tính của triết lý Marx - Lenin, đã là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng tham nhũng kinh khủng hiện nay. Người ta tiếp tục chà đạp lên những giá trị đạo đức, cướp đoạt nhà đất một cách trắng trợn, trù dập, sách nhiễu, bỏ tù những người yêu nước lương thiện không phục tùng đảng bằng những tội danh bịa đặt.
Khi sự lương thiện đã không có thì lấy lý do gì để chống tham nhũng? Và tại sao lại học tập "đạo đức Hồ Chí Minh" thay vì "đạo đức" ngắn gọn? Phải hiểu "đạo đức Hồ Chí Minh" không phải là đạo đức phổ cập, nghĩa là đạo đức như mọi người đều có thể hiểu.
4/Đảng cộng sản và dân tộc Việt Nam
Giải quyết những vấn đề mà lịch sử để lại để đoàn kết người Việt Nam trong đồng thuận xây dựng và chia sẻ một tương lai chung không phải là quan tâm của đảng cộng sản. Họ hành xử như một tập thể riêng ở ngoài và ở trên dân tộc Việt Nam. Họ không do nhân dân bầu ra, họ là một lực lượng chiếm đóng. Họ không quan tâm tới lịch sử Việt Nam, họ có lịch sử đảng cộng sản. Họ không cần người Việt Nam đoàn kết, trái lại họ muốn người Việt Nam chia rẽ và thù ghét nhau để họ dễ thống trị. Đối với họ cái trở thành của nước Việt Nam không phải là điều quan trọng, điều quan trọng là họ vẫn cầm quyền.
Về bản chất đảng cộng sản không phải là một lực lượng dân tộc. Chủ nghĩa Marx-Lenin không có tổ quốc, nó chủ trương xóa bỏ các quốc gia – Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc còn hơn là thuộc Việt Nam Cộng Hoà vì Bắc Kinh là anh em, Sài Gòn là thù địch. Tiếng gọi đấu tranh giai cấp là tiếng gọi nội chiến. Tuy vậy những gì xảy ra tại Thái Hà, Tam Tòa, Bảo Lộc, và chắc sẽ còn ở nhiều nơi khác nữa, vẫn làm người ta ngạc nhiên. Đảng cộng sản đã cầm quyền trên cả nước gần 35 năm rồi và chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ. Để tồn tại đáng lẽ nó phải cố gắng hóa thân thành một đảng dân tộc. Các cấp lãnh đạo cộng sản chắc chắn cũng phải hiểu như vậy. Nhưng tại sao họ làm ngược lại? Phải chăng họ cho rằng đã quá trễ để hòa giải với dân tộc Việt Nam và chọn lựa thực tiễn duy nhất chỉ là kéo dài chế độ thêm được ngày nào hay ngày đó bằng mọi phương tiện? Dã tâm này đến từ tâm lý tuyệt vọng.
5/Đảng cộng sản và khủng bố
Đừng quên rằng mọi chính quyền cộng sản đều đặt nền tảng trên khủng bố; khi không thể khủng bố nó sụp đổ. Robespierre, lý thuyết gia đầu tiên của chủ nghĩa khủng bố để lại một câu nói trứ danh: "Hai cột trụ của chính quyền cách mạng là đức hạnh và khủng bố, không có đức hạnh thì khủng bố chỉ là đơn độc, không có khủng bố thì đức hạnh cũng bất lực". Đức hạnh để được kính nể và không bị chống đối, khủng bố để tiêu diệt những chống đối còn lại. Lenin cũng đồng ý với Robespierre, ông chỉ thay thế cái đức hạnh lý tưởng và đam mê của Robespierre bằng cái "đạo đức cách mạng" bịa đặt và áp đặt của Đảng. Nhưng muốn như thế thì phải dập tắt mọi tiếng nói. Sự dối trá sẽ vô duyên và vô dụng nếu nó không có độc quyền. Mọi tiếng nói trừ tiếng nói của Đảng, phải im bặt, mọi ý chí phải bị đập tan, mọi người đều phải là những thằng hèn. Sự khống chế tư tưởng phải tuyệt đối. Khống chế tư tưởng để triệt tiêu mọi ý định chống đối, đàn áp để tiêu diệt những chống đối còn lại. Bưng bít và bịt miệng là vũ khí cơ bản của các chế độ khủng bố cộng sản và phát xít.
Và cũng có hai điều kiện bắt buộc để chính sách khủng bố có thể thành công. Một là một chính quyền chỉ có thể thi hành chính sách khủng bố đối với xã hội nếu cùng một lúc nó cũng thi hành khủng bố một cách dữ dội hơn ngay trong nội bộ. Đao phủ của các chế độ bạo ngược thường xuất phát từ trong lòng chế độ. Stalin đã hành quyết hơn 80% thành viên của ban chấp hành trung ương đã bầu ông vào chức tổng bí thư, Robespierre đã đưa lên máy chém gần hết thành viên của Directoire. Hai là khủng bố phải thật dữ tợn để gây kinh hoàng, và phải thật giản đơn để mọi người đều thấy mình có thể là nạn nhân bất cứ lúc nào, và sống trong lo sợ. Giết lầm hơn tha lầm, khủng bố nửa vời là tự sát.
Tình trạng hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam là nó không còn khả năng bưng bít, cả nước và cả thế giới biết những gì xảy ra sau một vài giờ. Nó cũngkhông còn kỷ luật nội bộvà cũng không có hy vọng tìm ra một người lãnh đạo đủ uy tínđể áp đặt một kỷ luật nội bộ tối thiểu, nói gì tới khủng bố nội bộ. Những bản án tù vài năm chẳng gây kinh hoàng cho ai, trừ những phần tử yếu bóng vía đàng nào cũng không phải là những người đối lập đáng lo ngại. Những bản án tù này chỉ có tác dụng kích thích sự chống đối. Những vụ bạo hành của bọn đầu gấu sẽ chỉ có tác dụng đổ dầu vào lửa. Đảng cộng sản Việt Nam muốn thi hành chính sách khủng bố nhưng lại không có được một điều kiện nào trong những điều kiện cần có của một chính sách khủng bố. Nó chỉ đào huyệt tự chôn mình. Và khi sự kiện Đảng đang đào hố chôn mình đã rõ rệt thì tự nhiên ngay trong nội bộ Đảng cũng sẽ có những người nhận ra là phải hành động để tự cứu mình. Phương pháp biện chứng, mà chủ nghĩa cộng sản lấy làm nền tảng của lý luận, cho rằng có một thời điểm mà lượng biến thành chất, mà những mâu thuẫn đã tích lũy đủ để làm bùng ra một một thay đổi toàn bộ, tiếng Việt nói là tức nước vỡ bờ. Thời điểm này đã gần kề.
Đại hội 11 sẽ là đại hội của bế tắc toàn diện. Ban lãnh đạo xuất phát từ đại hội 11 sẽ chỉ gồm những con người mờ nhạt không thành tích, không uy tín, không khả năng và thiếu cả ý chí, lại phải giải quyết những vấn đề rất nghiêm trọng và cấp bách. Họ sẽ chẳng làm được gì và cũng chẳng lãnh đạo được ai. Vả đảng cộng sản không còn là một chính đảng, nó đã trở thành một giai cấp bóc lột. Và một giai cấp không bao giờ là một đội ngũ để có sức chiến đấu ngay cả khi nó rất giàu và có thừa phương tiện. Bằng cớ là nó đang tự đầu gấu hóa để trở thành một băng đảng. Nhưng đặc tính của những băng đảng là chúng chỉ qui tụ được một số rất ít nguời. Đảng cộng sản sẽ vỡ ra thành nhiều băng đảng xâu xé lẫn nhau và các đảng viên lương thiện sẽ bỏ đi. Bối cảnh hiện nay và sắp tới sẽ rất thuận lợi cho cuộc vận động dân chủ.
6/Chủ nghĩa cộng sản đã chết ở Việt Nam
Chủ nghĩa cộng sản đã chết, và đã chết hẳn tại Việt Nam. Cái gì còn lại mà chúng ta đang thấy và tiếp tục gọi là chế độ cộng sản thực ra chỉ là một chế độ độc tài như mọi chế độ độc tài khác. Không làm gì có chủ nghĩa mác xít thị trường. Chế độ Việt Nam hiện nay chỉ là một chế độ phát xít với một bộ máy công an hung bạo và một chế độ kinh tế tư bản rừng rú. Về bản chất, chế độ cộng sản có tất cả mọi thành tố của chế độ độc tài phát xít. Điều khác biệt duy nhất là các chế độ độc tài phát xít chấp nhận quyền tư hữu và quyền kinh doanh trong khi các chế độ cộng sản tập trung tài sản và quốc hữu hóa tất cả. Cái phẩm giá của chế độ cộng sản, mà chế độ phát xít không có, chính là sự ngây thơ của nó, chính là ảo tưởng của một thế giới không có tư hữu trong đó con người làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu. Bỏ đi ảo tưởng này thì các chế độ cộng sản cũng chỉ còn là công cụ tồi tệ của một băng đảng cướp bóc như mọi chế độ phát xít mà người cộng sản từng hết lời xỉ vả.
Thực ra đảng cộng sản Việt Nam không có Tổng Bí thư. Mặc dù nó vẫn tiếp tục đàn áp thô bạo, chế độ cộng sản chỉ còn là một hư cấu và sẽ không thể thích nghi với trật tự thế giới hậu khủng hoảng đang hình thành. Nó thiếu cả ý kiến lẫn lãnh đạo. Nó không có ý kiến vì nó không thể có ý kiến, vì mọi ý kiến đúng đắn đều dẫn tới kết luận hiển nhiên là chế độ này vô lý và phải chấm dứt. Nó không thể có những người lãnh đạo đúng nghĩa vì bộ máy sàng lọc của nó đã loại bỏ hết những con người có trí tuệ và đạo đức.
Tình trạng xuống cấp của đảng cộng sản Việt Nam là hậu quả tự nhiên của chính sách mở cửa kinh tế. Một chế độ độc tài mở cửa về kinh tế bắt buộc phải bị đào thải. Đào thải sớm hay muộn và nhường chỗ cho cái gì là một câu hỏi khác nhưng bắt buộc phải bị đào thải. Tại sao? Bởi vì nó áp đặt lên một xã hội ngày càng có sức mạnh và được thông tin đầy đủ những chịu đựng ngày càng không thể chấp nhận.
7/Sự thật về chế độ cầm quyền hiện nay
Phải nói ngay rằng chẳng có chế độ bạo ngược nào có lý tưởng cả, nhưng ít nhất chúng còn buôn bán một ảo tưởng. Các chế độ độc tài hậu cộng sản khác hẳn. Chúng không nhân danh gì cả và cũng không hứa hẹn gì cả, dù là một ảo tưởng. Các lãnh tụ của chúng không có cao vọng làm anh hùng và đi vào lịch sử mà chỉ có một mục tiêu là vơ vét thật nhiều và cầm quyền thật lâu.
Một chế độ không có gì để thuyết phục mà chỉ thuần túy dựa trên đàn áp chỉ có thể đứng vững nếu chính quyền có phương tiện rất lớn trong khi quần chúng rất yếu, kể cả về mặt kinh tế, để không có sức đề kháng. Tham nhũng và bóc lột vì thế chỉ có thể gia tăng như một qui luật nằm trong bản chất của chế độ, dù có thể là những người cầm quyền không muốn.
Tóm lại các chế độ độc tài còn lại chắc chắn phải bị đào thải. Chúng chỉ đàn áp chứ không có gì để thuyết phục và hứa hẹn, trong hai chân phải có của một chế độ chính trị chúng chỉ có một. Chúng là những chế độ què và không thể đứng lâu. Như một qui luật chúng ngày càng co cụm lại và bị thù ghét, sau cùng bị lật đổ vì áp lực của quần chúng với sự đồng tình của quân đội. Không thể khác, các chế độ này thực ra là những quái thai chính trị. Từ ngàn xưa mọi chính quyền độc đoán đều phải dựa trên một tôn giáo hay một chủ nghĩa. Các chế độ độc tài hậu cộng sản đáng lẽ không thể có, chúng đã chỉ tồn tại được nhờ một tình trạng không bình thường của thế giới trong giai đoạn chuyển tiếp về một trật tự thế giới mới. Nhưng thế giới đã chín muồi cho một chuyển động mới. Làn sóng dân chủ thứ tư đã bắt đầu và chúng sẽ bị cuốn đi. Chúng ta có thể trả lời chắc chắn rằng làn sóng dân chủ thứ tư sẽ tràn tới Việt Nam.
8/ Đại Hội XI của đảng cộng sản Việt Nam
Các chế độ cộng sản còn lại, sau khi chủ nghĩa Marx phá sản, đề cao những giá trị không thú nhận như sự giàu có, xa hoa, quyền lực và sự thống trị; mục tiêu của chúng là xây dựng những chính quyền thực mạnh để cầm quyền thực lâu, phương thức cai trị của chúng là bưng bít, dối trá và bạo lực. Các chế độ dân chủ đề cao những giá trị tự do cá nhân, xã hội dân sự, thông tin, ý kiến, sáng kiến, sự lương thiện và sự liên đới; mục tiêu của chúng là xây dựng một xã hội giàu mạnh của những cá nhân đầy quyền lực và bình đẳng trước pháp luật, phương thức cai trị là nhà nước pháp trị và đồng thuận.
Trong thực tế chế độ cộng sản này không phải chỉ cấm làm chính trị mà còn cấm đoán và kiểm soát rất nhiều thứ khác. Họ khống chế tất cả vì sợ rằng ngay khi một sinh hoạt được buông lỏng nó trở thành một môi trường chống đối. Đảng cộng sản cai trị bằng sự sợ hãi vì chính nó đang lo sợ.
Không phải chỉ những người đối lập mà ngay các trí thức có danh phận hàng đầu của chế độ họp để góp ý cho đại hội đảng cũng khẳng định từ Đại hội XI, đảng và chế độ cộng sản sẽ bắt đầu giai đoạn sụp đổ. Đại hội XI của đảng cộng sản Việt Nam vừa qua đã xác nhận điều đó.
Đại hội XI đã không đạt tới được đồng thuận về một định hướng hay một dự án nào, mà chỉ nhắc lại một cách ngược ngạo là tiếp tục "phát triển Cương lĩnh năm 1991 để làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Ðảng và Nhà nước".
Nhưng cương lĩnh năm 1991 là gì? Đó là quyết định của Đại hội 7 chặn đứng đà đổi mới chính trị khởi đầu từ Đại hội 6 cuối năm 1986 để cầu hòa với Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc với hy vọng có thể cố thủ và tồn tại. Nhưng làm sao có thể tiếp tục một chính sách đã được quyết định cách đây 20 năm trong một thế giới thay đổi dồn dập hàng ngày? Không một chính đảng nào trên thế giới, dù là đảng cầm quyền hay đảng đối lập, có thể tuyên bố như thế mà không sợ biến thành trò cười, đảng Cộng sản Việt Nam đúng là một ngoại lệ.
9/ Mối quan hệ giữa ý thức hệ, chính sách đối ngoại và đồng minh
Chế độ chính trị quyết định chính sách đối ngoại và đồng minh.
Trí thức Việt Nam, ngay cả những người ít nhiều quan tâm đến chính trị, hình như không nhìn thấy mối quan hệ mật thiết và bắt buộc giữa ý thức hệ và chính sách đối ngoại và đồng minh. Chúng ta hình như nghĩ rằng nước mình quá nhỏ yếu chẳng có ảnh hưởng gì, hơi đâu mà quan tâm và suy nghĩ về thế giới. Đó là một ngộ nhận lớn. Càng yếu chúng ta càng lệ thuộc vào thế giới bên ngoài và càng cần phải hiểu bối cảnh quốc tế. Một người Mỹ có thể không cần biết những gì đang xảy ra trên thế giới, nhưng một người Việt thì khác.
Nếu nhìn lại lịch sử cận đại của chúng ta thì hầu hết các thảm kịch quốc gia lớn đều đã do sự thiếu hiểu biết bối cảnh thế giới của những người có vai trò lãnh đạo. Năm 1945 thay vì đoàn kết toàn dân để giành độc lập, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam đã áp đặt chủ nghĩa Marx-Lenin và tiêu diệt các chính đảng không cộng sản, với kết quả là nội chiến. Nếu hiểu biết về thế giới hơn một chút thì người ta đã phải thấy rằng du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam là một sai lầm lớn. Nó đã bị chứng minh là sai và bị vất bỏ tại châu Âu, cái nôi của nó, từ lâu rồi. Năm 1960 thay vì hòa giải giữa hai miền Nam Bắc để từng bước tiến lại gần nhau và thống nhất đất nước trong hòa bình người ta đã hăm hở phát động nội chiến mà không biết rằng với chiến tranh lạnh đang lên tới cao điểm vào lúc đó cuộc chiến sẽ chắc chắn bị quốc tế hóa với cái giá kinh khủng cho đất nước. Kết quả là đất nước tan tác, sáu triệu người chết và tàn phế, cùng với những đổ vỡ tình cảm mà phải nhiều thế hệ mới có thể hàn gắn. Năm 1975, thay vì thực hiện hòa giải dân tộc, người ta đã chọn cóp nhặt toàn bộ mô hình Liên Xô sắp phá sản, đinh ninh rằng chủ nghĩa tư bản sắp giẫy chết. Giữa thập niên 1980 khi làn sóng dân chủ đang đạt tới cao điểm của nó, thay vì tỉnh ngộ và thẳng thắn chuyển hướng về dân chủ người ta chọn quỳ xuống hàng phục Trung Quốc. Tất cả đều là hậu quả của sự thiếu văn hóa và thiếu hiểu biết về bối cảnh thế giới.
Ngày hôm nay đảng cộng sản lại đang làm một chọn lựa điên dại khác là quay lưng lại với thế giới và tiếp tục ôm chân Trung Quốc để hy vọng giữ được chính quyền. Đây là một chọn lựa độc hại cho đất nước nhưng cũng khờ khạo cho chính đảng Cộng sản. Họ sẽ không giữ được chính quyền lâu dài bởi vì chính chế độ Bắc Kinh mà họ muốn dựa vào để tồn tại cũng sẽ không đứng vững trong bối cảnh thế giới mới. Thời gian của các chế độ cộng sản và độc tài đã hết. Tất cả sẽ bị cuốn đi trong làn sóng dân chủ mới này. Sự ngoan cố của đảng cộng sản có thể giúp chế độ kéo dài thêm một vài năm nhưng sẽ chỉ khiến nó sụp đổ một cách ô nhục hơn và bi thảm hơn.
Hoàng Tâm Nguyên

Không có nhận xét nào: