Hoàng Tâm Nguyên


Bài 4. Quần chúng

“…Bằng cách dứt khoát đoạn tuyệt với văn hóa nhân sĩ của tầng lớp cha anh và quả quyết sống như những con người tự do, lớp người trẻ sẽ có những đóng góp thiết thực để tiến trình dân chủ trở nên nhanh chóng hơn…”

Quần chúng là gì? Quần chúng phải được hiểu là khối đông đảo những người không phân biệt trình độ hiểu biết, không dành cho hoạt động chính trị một quan tâm bền bỉ nào và cũng không tham gia một tổ chức chính trị nào. Đặc điểm của quần chúng là không gắn bó, mỗi người sống riêng lẻ, bình thường bất lực, khi được động viên thì ứng xử giống như một đám đông, nghĩa là một khối nhiều người không biết nhau đi theo sự hướng dẫn của những người cầm đầu.
1/Hai ngộ nhận và ba điều kiện
- Ngộ nhận thứ nhất là cho rằng quần chúng là tất cả, quần chúng có thể động viên được một cách nhanh chóng và khi đã có quần chúng là sẽ thành công.
Ngộ nhận này khiến người ta hăm hở vận động quần chúng (rải truyền đơn, căng biểu ngữ, kêu gọi biểu tình v.v.) dù chưa có chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức. Có những tổ chức ra đời chỉ để sách động quần chúng.
- Ngộ nhận thứ hai là cho rằng nếu quần chúng phẫn nộ vì ý thức được rằng mình bị đàn áp và bóc lột thì họ sẽ đứng dậy đánh đổ chính quyền. Sự thực thì mọi kinh nghiệm đều cho thấy là một khối người dù đông đảo tới đâu và hoàn toàn đồng ý rằng mình bị áp bức cũng không đứng dậy tranh đấu. Họ chỉ đứng dậy tranh đấu nếu có một tổ chức lãnh đạo và tổ chức này phải đủ mạnh và gắn bó để khiến họ tin chắc vào thắng lợi.
Tâm lý đám đông của quần chúng cần được đặc biệt lưu ý vì có hai hệ quả rất quan trọng: một là quần chúng đòi hỏi lãnh đạo, do đó quần chúng chỉ có thể động viên được nếu có một tổ chức mạnh khởi xướng; hai là, cũng như một đám đông, quần chúng được động viên do bị kích thích. Không có sự kích thích nào có  thể kéo dài được, bởi vậy quần chúng chỉ có thể động viên được trong một thời gian ngắn. Tổ chức lãnh đạo vì vậy phải chuẩn bị trước kế hoạch để tận dụng tối đa và tức khắc thời điểm thuận lợi này để đạt những kết quả dứt khoát không thể đảo ngược. Do hai đặc tính này giai đoạn động viên quần chúng là giai đoạn hết sức căng thẳng và sôi nổi. Các nhà nghiên cứu chính trị dùng cụm từ chiến tranh động viên (war of mobilization, guerre de mobilisation).
Một cách cụ thể, nếu bỏ qua những hành động khủng bố, hầu như trong mọi cuộc cách mạng bất bạo động tại mọi quốc gia cuộc chiến tranh động viên diễn ra như sau:
- Một bên là phe đối lập cố gắng thuyết phục quần chúng rằng phải thay đổi chế độ chính trị và tổ chức xã hội để tìm một lối thoát cho cả dân tộc; một bên là đảng cầm quyền cố gắng trấn an quần chúng rằng mỗi người có thể tìm giải pháp thăng tiến cá nhân cho mình trong khuôn khổ chế độ.
- Đối lập hô hào thay đổi xã hội trong khi chính quyền đề cao sự linh động trong xã hội. Đối lập hô hào một giải pháp chung cho đất nước trong khi chính quyền hứa hẹn những khả năng thăng tiến cá nhân. Tóm lại đối lập kêu gọi đoàn kết để cùng nhau đấu tranh cho một giải pháp quốc gia trong khi chính quyền khuyến khích tâm lý luồn lách để tìm giải pháp cá nhân.
- Đối lập tố giác những sai phạm của chính quyền và những thiệt hại gây ra cho quần chúng. Để chống trả, một chính quyền khôn ngoan không bao giờ nói là tất cả đều rất tốt và không có gì phải thay đổi, vì như thế là vô tình tiếp tay cho đối lập bởi vì khiến người dân thấy là họ không có gì để hy vọng ở chế độ; trái lại nó luôn luôn nhìn nhận là có nhiều sai lầm và tỏ ra cố gắng sửa sai, dù những biện pháp sửa sai chỉ nhằm duy trì hiện trạng.
- Đối lập kêu gọi hoà giải và hoà hợp dân tộc để có đoàn kết và sức mạnh dân tộc, trong khi chính quyền cố hết sức để khơi động những tị hiềm để giữ quần chúng trong thế chia rẽ bất lực. Cuộc nổi dậy nào của quần chúng cũng bắt đầu từ một biến cố khởi động xẩy ra cho một tập thể quần chúng, nếu tập thể này không được sự hưởng ứng của các tập thể khác, thậm chí còn bị chống đối, thì biến cố này không thể trở thành khởi điểm cho một cuộc nổi dậy của toàn dân. Một thí dụ cụ thể, trong nhiều thí dụ khác, là khi người Công giáo tranh đấu, như biến cố Tam Toà tại Quảng Bình năm 2009, chính quyền cộng sản đã khơi động tinh thần bài Công giáo để huy động những phần tử quá khích hành hung các linh mục và giáo dân. Các tập đoàn độc tài không cần người dân thương yêu chúng, chúng chỉ cần người dân đừng thương yêu nhau để tiếp tục bất lực trong sự chia rẽ.
- Đối lập cố gắng thống nhất đội ngũ lãnh đạo vì đó là điều kiện bắt buộc để động viên quần chúng; quần chúng không thể đứng dậy nếu nhận được những lời kêu gọi mâu thuẫn từ nhiều nguồn. Chính quyền cố gắng phân tán và chia rẽ tối đa đối lập bằng mọi phương tiện, kể cả khuyến khích cách làm chính trị nhân sĩ, mua chuộc một số thành phần đối lập hay thành lập những tổ chức đối lập giả hiệu.
- Đối lập cố gắng trấn an những người trong bộ máy chính quyền rằng sự thay đổi chế độ sẽ không đe dọa họ trong khi chính quyền cố gắng tạo tâm lý lo sợ những trả thù báo oán để đoàn kết nội bộ trong phản xạ tự vệ. Hoà giải và hoà hợp dân tộc là ngôn ngữ bắt buộc của một đối lập thông minh. Bằng ngôn ngữ ôn hoà và bao dung đối lập cố gắng thuyết phục và tranh thủ những thành phần tiến bộ trong đảng cầm quyền bởi vì những tiếng nói phản kháng từ trong nội bộ có sức tàn phá đặc biệt; chính quyền cố gắng giữ vững hàng ngũ bằng cách phủ dụ và mua chuộc những người bất mãn, nếu không được thì trừng trị một cách thật nghiêm khắc để làm gương.
Cố gắng động viên quần chúng chỉ thành công nếu hội đủ ba điều kiện:
- Điều kiện thứ nhất là quần chúng cảm thấy mình là một thành phần bị một thành phần khác chà đạp và bóc lột. Cần có sự hiện hữu của hai tập thể có căn cước rõ ràng, một tập thể ta trong đó mỗi người cảm thấy mình là thành viên gắn bó và có trách nhiệm phục vụ, đồng thời cũng cảm thấy được hỗ trợ; và một tập thể địch mà tập thể ta nhìn như nguyên nhân của những đau khổ mà mình và các đồng cảnh là nạn nhân.
Tập thể địch có thể được tạm định nghĩa là thành phần thượng lưu trong chế độ. Tập thể ta phải là toàn dân hoặc đại đa số dân chúng. Như vậy muốn xây dựng tập thể này, không có giải pháp nào khác hơn là củng cố lòng yêu nước và đề cao hoà giải và hoà hợp dân tộc. Không có lòng yêu nước thì không thể nói tới dân tộc, yêu nước mà chia rẽ và thù ghét lẫn nhau thì cũng không phải là một lực lượng và sẽ tiếp tục bất lực trong sự chia rẽ.
- Điều kiện thứ hai là phải có những hứa hẹn cụ thể. Quần chúng không đủ hiểu biết và suy luận để có thể được hoàn toàn thuyết phục và động viên vì những phúc lợi của đạo đức chính trị, lòng yêu nước, tự do, dân chủ v.v. Họ phải nhìn thấy cuộc cách mạng đem lại cho họ những kết quả cụ thể nào. Các cuộc cách mạng Hoa Kỳ và Pháp cuối thế kỷ XVIII có nguồn gốc là chống thuế. Các đảng cộng sản tại Nga, Trung Quốc và Việt Nam đã có một hứa hẹn rất cụ thể là nếu nắm được chính quyền họ sẽ tiêu diệt giai cấp chủ nhân (hoặc địa chủ) và lấy của người giàu chia cho người nghèo.
- Điều kiện thứ ba là quần chúng phải chắc chắn là cuộc đấu tranh sẽ thành công. Quần chúng không lãng mạn. Cũng không thể đòi hỏi sự dũng cảm và kiên trì nơi quần chúng. Dũng cảm và kiên trì là đặc tính của những tổ chức. Nhưng khi nào thì quần chúng tin chắc vào thắng lợi? Câu trả lời của những kinh nghiệm lịch sử và những công trình nghiên cứu là khi quần chúng thấy có một tổ chức vừa đáp ứng đúng nguyện vọng của họ vừa có đủ sức mạnh để giành thắng lợi. Một lần nữa đấu tranh chính trị luôn luôn là đấu tranh có tổ chức và không bao giờ là đấu tranh của những cá nhân. Sức mạnh của tổ chức được hiểu là phương tiện, trí tuệ, đội ngũ nòng cốt, uy tín của lãnh đạo, và nhất là sự gắn bó vì quần chúng nhìn một tổ chức như một người. Một tổ chức yếu về lực lượng hoặc chưa có uy tín dĩ nhiên không động viên được quần chúng. Một tổ chức không có nhất trí dưới mắt quần chúng giống như một người chưa biết mình muốn gì và do đó cũng không thể động viên được quần chúng. Và vì tổ chức lãnh đạo quần chúng phải vừa mạnh vừa gắn bó, nó chỉ có thể là thành quả của những cố gắng thông minh và kiên trì trong hàng thập niên. Một tổ chức vừa mới thành lập được vài năm, chưa nói vài tháng, không có hy vọng nào động viên được quần chúng.
Điều quan trọng cần được nhắc lại và nhấn mạnh là một khi đã được động viên thì lực lượng quần chúng phải được sử dụng ngay tức khắc để đạt thắng lợi. Quần chúng không kiên nhẫn, nếu thắng lợi không đến nhanh chóng khí thế đấu tranh sẽ nhường chỗ cho thất vọng.
Tóm lại, quần chúng chỉ động viên được vào lúc mà mọi cố gắng và hy sinh để thành công đã làm xong, thắng lợi đã chắc chắn và quần chúng không còn chọn lựa nào khác hơn là ủng hộ.
Còn một lấn cấn: một cuộc cách mạng có thể hoàn toàn một cách bất bạo động trong mọi trường hợp được không? Những thay đổi chế độ trong hoà bình tại Đông Âu và Liên Xô cũ phải chăng chỉ là do may mắn?
Quả thực động viên quần chúng là để buộc chính quyền phải nhượng bộ trước đe doạ của những hành động mãnh liệt như biểu tình lớn trên toàn quốc, chiếm đóng và làm tê liệt các cơ quan xí nghiệp, cuối cùng chiếm chính quyền dưới áp lực của đường phố, thậm chí nổi dậy võ trang nếu cần. Điều rất quan trọng cần được nhấn mạnh là trong đại đa số các trường hợp những hành động này không cần thiết. Một đối lập sáng suốt có thể không dùng tới những hành động này trong mọi trường hợp. Chỉ cần có khả năng lật đổ chính quyền bằng áp lực quần chúng là đủ.
Chính quyền nào, dù ngoan cố và lì lợm đến đâu, cũng sẽ thoả hiệp thay vì đối đầu nếu biết trước đối đầu sẽ thảm bại.
Như thế tranh thủ và động viên quần chúng là điều phải làm, nhưng đưa quần chúng vào hành động là không cần thiết. Chỉ cần chứng tỏ có khả năng điều động quân chúng nổi dậy là đủ chứ không cần quần chúng thực sự nổi dậy.
Những ngộ nhận về vận động quần chúng chủ yếu do quan sát hời hợt không khí tưng bừng của những cuộc cách mạng đã thành công, người ta tưởng rằng các cuộc cách mạng này đã thành công vì được quần chúng ủng hộ, trong khi thực ra quần chúng chỉ ủng hộ các cuộc cách mạng đó vì chúng đã thành công. Trong lịch sử của các dân tộc, những cuộc đổi đời lớn đều là thành quả của những nhóm nhỏ đã có đủ trí tuệ để nhìn thấy hướng đi phải có cho xã hội và đã kiên trì đấu tranh, chấp nhận mọi cố gắng và hy sinh cho lý tưởng của họ. Sau cùng họ đã đánh bại được những tập đoàn cầm quyền nhiều lần mạnh hơn họ về cả phương tiện lẫn số lượng bởi vì họ là hiện thân của một tương lai bắt buộc phải đến trong khi tập đoàn cầm quyền là hiện thân của một hiện tại phải qua đi. Và vì họ đã có đủ quyết tâm, dũng cảm và kiên trì, để vượt qua mọi thử thách. Sự hưởng ứng của quần chúng sau cùng đã đến như là phần thưởng của thắng lợi.

2/Làm sao để động viên quần chúng?
Mọi nghiên cứu và kinh nghiệm lịch sử đều đưa đến một kết luận rất rõ rệt: một khối người dù đông đảo đến đâu và bị bóc lột đến đâu đi nữa cũng không đứng dậy trong một cuộc đấu tranh chung nếu không có những điều kiện cần thiết. Mặt khác không phải những người bị thua thiệt nhất là những người đứng dậy tranh đấu, họ chỉ có thể hưởng ứng một cuộc đấu tranh đã gần như chắc chắn thắng lợi mà thôi. (Giai cấp bần cố nông Việt Nam đã chỉ nhập cuộc ủng hộ đảng cộng sản sau khi họ đã cướp được chính quyền năm 1945 với một đội ngũ nhỏ). Những người đứng dậy tranh đấu là những người tương đối đã khá giả và nhận thức rằng họ không có được chỗ đứng phải có. Không phải là một sự tình cờ mà mọi cuộc cách mạng, kể cả các cuộc cách mạng cộng sản, đều xuất phát từ giới trí thức trung lưu.
Những điều kiện nào cần thiết để động viên quần chúng?
- Điều kiện thứ nhất là một ý thức rằng mình thuộc một thành phần bị một thành phần khác bóc lột và cuộc sống và chỗ đứng của mình chỉ có thể cải thiện trong một giải pháp chung chứ không thể có giải pháp cá nhân. Các đảng cộng sản đã thành công ở một số quốc gia, như Việt Nam, vì họ đã tạo ra được ý thức một giai cấp bần cố nông bị giai cấp địa chủ bóc lột và phải đánh đổ giai cấp địa chủ để giải thoát toàn thể giai cấp mình. Điều này rất quan trọng và cũng rất khó đạt tới, nhất là đối với một phong trào dân chủ kêu gọi bao dung và đoàn kết dân tộc thay vì hận thù.
Ý thức phải rất rõ rệt, nghĩa là mọi người phải cảm thấy đủ gắn bó với thành phần của mình cả về quyền lợi lẫn tình cảm để không có ý định xé lẻ tìm cách tự thăng tiến một mình. Ý thức này chỉ có thể là thành quả của một cố gắng thuyết phục nghiêm túc và kiên trì, bởi vì các tập đoàn cầm quyền không thiếu khả năng cám dỗ.
Chế độ cộng sản ngày nay đã và đang đưa ra những mẫu người thành công xuất phát từ giai cấp nghèo khổ để tạo ảo tưởng "linh động xã hội" (social mobility) và giúp chế độ kéo dài. Nhưng số người này là bao nhiêu? Chúng ta sẽ cần những thống kê xã hội và những lập luận chính xác để vạch trần sự bịp bợm này, và chúng ta cũng cần rất nhiều kiên trì bởi vì tâm lý thông thường của con người là luồn lách, tránh hiểm nguy, tìm lối thoát cho riêng mình, để mặc cho những kẻ dại dột đem đầu húc đá; vả lại nếu vạn nhất chúng có thành công thì cả xã hội, trong đó có mình, đều được hưởng. Chúng ta cần một cố gắng rất mãnh liệt và bền bỉ để chứng minh rằng chủ nghĩa luồn lách không phải chỉ là hèn nhát mà còn là dại dột.
-Điều kiện thứ hai đòi hỏi một tổ chức động viên. Mọi nghiên cứu lý thuyết cũng như mọi kinh nghiệm trên thế giới đều quả quyết không hề có hiện tượng quần chúng tự nhiên đồng loạt đứng dậy tranh đấu đòi thay đổi xã hội. Mọi thay đổi chế độ và chính quyền đều cần một tổ chức làm động cơ. Không có ngoại lệ nào cho qui luật này.
Không phải tổ chức nào cũng có thể động viên quần chúng. Muốn động viên được quần chúng, tổ chức phải hội đủ ít nhất ba điều kiện.
   1. Trước hết phải có một tư tưởng chính trị và một dự án chính trị đủ sức thuyết phục, và trên thực tế đã thuyết phục được, một số đông đảo. Không phải là một sự tình cờ mà một phong trào chính trị luôn luôn phải có một phong trào tư tưởng đi trước. Dự án chính trị và nhất là tư tưởng chính trị không thể vay mượn, bởi vì tư tưởng phải được liên tục triển khai vào thực tại và người ta chỉ có thể thích nghi một dự án chính trị với thực tại mà không biến chất nó và bộc lộ sự mâu thuẫn trong hành động nếu là dự án của chính mình.
   2. Sau đó tổ chức phải rất gắn bó và đồng nhất. Mọi chọn lựa, dù chắc chắn phải có thảo luận trong một sinh hoạt dân chủ, cuối cùng phải là quyết định đồng thanh trước mắt quần chúng. Điều trớ trêu là một tổ chức tranh đấu cho dân chủ và đa nguyên lại phải rất đồng nhất trong nội bộ. Lý do là vì tổ chức được nhìn như một thực thể, nhìn từ bên ngoài một tổ chức chia rẽ về ý kiến không khác gì một người chưa biết mình muốn gì. Làm sao hy vọng thuyết phục được quần chúng theo một đường lối mà chính mình cũng chưa tin chắc?
   3. Cuối cùng, tổ chức phải đủ mạnh, đủ tầm vóc và phương tiện, hay ít nhất phải chứng tỏ tiềm năng trở thành lớn mạnh, để quần chúng tin tưởng vào thắng lợi.
Không hội đủ ba điều kiện tối thiểu này thì mọi cố gắng động viên quần chúng chỉ là vô vọng.

3/Chuẩn bị và động viên quần chúng
Sự hưởng ứng của quần chúng là điều kiện bắt buộc, nhưng không phải là công việc khó khăn nhất của đấu tranh cách mạng và cũng chỉ là giai đoạn cuối cùng trước khi tiến công giành thắng lợi.
Cần phân biệt chuẩn bị quần chúng và động viên quần chúng.
-Tâm lý quần chúng cần được chuẩn bị:
   Một phần như là phó sản của những cố gắng truyền bá tư tưởng mới ngay từ giai đoạn đầu, trong thời đại chúng ta chủ yếu qua thông tin và sách báo,
   Một phần do chính những sai phạm của chính chế độ cần phải thay đổi.
-Nhưng động viên quần chúng tham gia đấu tranh thay đổi xã hội là một điều khác. Ngày nay chúng ta có thể coi tâm lý quần chúng Việt Nam đã chín muồi. Vấn đề còn lại là động viên quần chúng tranh đấu và đây là vấn đề chỉ có thể đặt ra sau khi đã xây dựng xong tổ chức đầu tàu và đã hội đủ các phương tiện.
Có thể nói sự hưởng ứng của quần chúng chỉ có vào lúc mà hầu như tất cả những cố gắng cam go nhất đã làm xong và thắng lợi đã chắc chắn.

4/ Thông điệp phải gửi tới quần chúng
Đảng cộng sản đang dẫn đất nước vào bế tắc. Đất nước tuy có tăng trưởng về mặt kinh tế nhưng không tăng trưởng một cách lành mạnh, ở mức độ đáng lẽ phải có. Tham nhũng đã khiến chênh lệch giàu nghèo quá lớn và của cải tập trung trong tay một số người rất nhỏ. Dưới chế độ cộng sản, Việt Nam đã tụt hậu bi đát trong cuộc cách mạng tri thức hiện nay. Một thực tế phân công lao động mới đang hình thành trên thế giới trong đó có những nước nắm những ngành kỹ thuật cao và những nước khác đảm nhận những công việc nặng nhọc và lợi tức thấp; số phận đang chờ đợi đại bộ phận dân tộc là số phận thua kém của những người lao động tay chân.
Những người ít nhiều tham gia vào cuộc đấu tranh cho dân chủ đều đồng ý rằng trở ngại chính không phải là chỉ đảng cộng sản mà còn là sự thụ động của quần chúng.
Vậy thông điệp mà ta phải gửi tới quần chúng là mỗi người không thể luồn lách, tìm cách giải quyết các vấn đề cá nhân bằng những giải pháp cá nhân được, mà phải có một giải pháp chung cho đất nước và như thế phải hành động chung.
Không phải ai cũng đủ tư cách để gửi thông điệp này, bởi vì sức thuyết phục của nó tùy thuộc cả lời nói lẫn người nói.
Thực ra quần chúng Việt Nam không còn cần được thuyết phục rằng chế độ cộng sản hiện nay là độc tài, tham nhũng, bạo ngược nữa. Họ cần một giải pháp và một niềm tin vào thắng lợi, họ cần được tổ chức và lãnh đạo. Họ cần một tổ chức dân chủ thực sự mạnh. Quần chúng đòi hỏi lãnh đạo và họ không thể nhận cùng một lúc nhiều chỉ thị. Quần chúng đòi hỏi một đường lối và những chỉ thị rõ rệt, xuất phát từ những cấp lãnh đạo bằng xương bằng thịt mà họ biết và tín nhiệm.
5/ Trình tự các thành phần nhập cuộc đấu tranh dân chủ
Vòng xoắn leo thang phẫn nộ-chống đối-đàn áp-chống đối này sẽ đưa nhiều thành phần xã hội nhập cuộc đấu tranh cho dân chủ. Kinh nghiệm cho thấy trong hầu như mọi trường hợp chuyển hóa về dân chủ các thành phần này thường nhập cuộc theo cùng một thứ tự đã được nhiều nghiên cứu xác định, đặc biệt là một công trình nghiên cứu rất công phu của Woodrow Wilson Center – cho đến nay chưa bị phản bác – qui tụ một số lượng đông đảo những nhà nghiên cứu có uy tín trong hơn hai năm từ 1979 đến 1981.
- Đầu tiên là giới văn nghệ sĩ, những người cần tự do nhất để có thể sáng tạo đồng thời cũng là những người có bản chất phóng khoáng và chính quyền cũng không lo ngại. Lớp người này tuy ít và hiểu biết chính trị sơ sài nhưng lại có một khả năng động viên lớn do sức thu hút quần chúng của họ.
- Kế tiếp là thành phần cởi mở trong đảng cầm quyền và bộ máy nhà nước. Cần nhấn mạnh rằng mục đích ban đầu của thành phần này không phải là thay đổi chế độ mà là bảo vệ chế độ. Một phần vì cảm thấy không được đãi ngộ xứng đáng, một phần vì sáng suốt, họ tin rằng chế độ không thể tồn tại như hiện trạng và họ vận động cải tiến nó để giúp nó tiếp tục tồn tại. Chỉ sau khi những cố gắng này chứng tỏ rõ ràng là tuyệt vọng họ mới đứng về phe dân chủ.
- Sau đó là các tập hợp ngành nghề, như các đoàn thể nhà báo, luật gia, y sĩ, kiến trúc sư, nhà giáo, nhà nông v.v. Tất cả đều bực bội vì ngành nghề của họ bị bế tắc do chính quyền. Đặc tính chung của những chế độ độc tài tham nhũng là tất cả mọi ngành nghề đều bị chèn ép, quyền lợi tập trung trong tay một vài băng đảng tay chân của chính quyền, vì thế mỗi tập thể đều là một trái bom nổ chậm và khi một ngành đứng dậy phản đối thì một cách nhanh chóng các ngành nghề khác cũng hưởng ứng theo.
- Sau cùng là tuổi trẻ, thanh niên và sinh viên. Khi tuổi trẻ đã nhập cuộc một cách đông đảo thì sự sụp đổ của chính quyền là điều chắc chắn.
Những nghiên cứu này có thể giúp giải thích biến cố Thiên An Môn năm 1989 trong đó sinh viên Trung Quốc đã nổi dậy và bị tàn sát nhưng sau đó chính quyền cộng sản Trung Quốc vẫn đứng vững. Đó là vì tuổi trẻ Trung Quốc đã nổi dậy bồng bột và đơn độc trong một xã hội chưa sẵn sàng. Con số 10.000 sinh viên trong một nước với 1.300 triệu người cũng là một tỷ lệ quá nhỏ. Chúng cũng giải thích tại sao tình hình Việt Nam đã không chuyển động cho tới nay, đồng thời cho phép đánh giá mức độ chín muồi của tiến trình dân chủ hóa tại nước ta.

6/Phản ứng từ các thành phần
trong xã hội Việt Nam
Cho đến nay, giới văn nghệ sĩ Việt Nam đã bất động; họ không cần tự do vì không có nhu cầu sáng tạo. Văn học và nghệ thuật Việt Nam không sáng tạo và do đó không làm nảy sinh nhu cầu đòi tự do. Điều này chúng ta có thể thấy rõ, văn nghệ sĩ Việt Nam hải ngoại không bị kềm kẹp nhưng cũng không có sáng tạo nào dù những thảm kịch của giai đoạn lịch sử vừa qua đã có thể là chủ đề cho những tác phẩm rất lớn, các ca sĩ hát đi hát lại những bản nhạc đã quá cũ về cả nhạc lẫn lời và ý. Chỉ mới gần đây mới có những hiện tượng Việt Khang, Kim Chi v.v.
Hy vọng đó là những con én báo mùa xuân.

Các tập thể nghề nghiệp cũng không nhiều tâm sự. Kể cả hai tập thể đông đảo đáng lẽ phải rất đau nhức là giới nhà báo và giới luật gia. Họ bị bắt buộc phải hàng ngày phản bội nghề nghiệp và danh dự của mình, nhà báo phải xuyên tạc, thẩm phán phải xử ngược với luật pháp và lương tâm, luật sư không được bào chữa tận tình. Thậm chí cơ quan lập pháp cao nhất, quốc hội, cũng là cơ quan quyền lực cao nhất trên danh nghĩa, cũng không hề phiền lòng khi luật pháp và hiến pháp bị vi phạm thô bạo. Chắc chắn tuyệt đại đa số "đại biểu" tin chắc rằng vai trò của quốc hội chỉ là để làm công cụ cho chính phủ và không cần thắc mắc.

Vậy phải chăng chỉ còn trông đợi ở những "thành phần sáng suốt" trong đảng và nhà nước cộng sản? Không ít người tin như vậy, nghĩa là Việt Nam chỉ có thể thay đổi nhờ một "Gorbachev Việt Nam" hay là nhờ đảng cộng sản tự vỡ, tự tách. Nếu như thế thì còn phải chờ đợi rất lâu vì các "thành phần sáng suốt" này hoặc chỉ muốn chấn chỉnh đảng để có thể chống lại dân chủ, hoặc chỉ lên tiếng kêu gọi dân chủ một cách rụt rè sau khi đã trở thành những vị "nguyên là". Các xung khắc trong nội bộ đảng và nhà nước cộng sản có và ngày càng nhiều nhưng vẫn chưa đủ mạnh để đẩy một cấp lãnh đạo thất vọng nào vào hàng ngũ dân chủ.

Một số người, chủ yếu ở hải ngoại, hy vọng khối dân oan sẽ là chủ lực của cuộc tiến công giành dân chủ. Nhưng khối dân oan là một khối cần được giúp đỡ hơn là một lực lượng. Họ không phải là một tập thể liên đới. Họ đi cùng nhau nhưng không có đòi hỏi chung. Họ chỉ có thể hưởng ứng và tăng cường cuộc nổi dậy đòi dân chủ chứ không thể là chủ lực.
Thành thực mà nói, thanh niên Việt Nam có quyền mơ ước những gì? Khó có thể là những thành tựu khoa học kỹ thuật bởi vì họ không có những phương tiện và những giáo sư tương đương với sinh viên các nước tiến bộ. Cũng không thể là những công trình văn hóa tư tưởng vì họ không có quyền tự do suy nghĩ và phát biểu trong khi ý kiến và sáng tạo là những yếu tố chỉ nẩy sinh và phát triển nơi những con người tự do, trong những xã hội dân chủ. Ngay cả giấc mơ bình thường và nhỏ bé là có được một căn nhà nhỏ ở thành phố cũng hoàn toàn ngoài tầm tay tuyệt đại đa số. Thử thách có thể khiến con người lớn lên như trong đa số trường hợp. Nhưng nó cũng có thể bẻ gẫy và làm cho con người nhỏ lại và thấp xuống. Cuộc chiến đấu của chúng ta cũng chính là để trả lại cho tuổi trẻ quyền được mơ ước.

Giải pháp nào cho sự băng hoại của đạo đức, ý chí và niềm tin? Tại sao tuổi trẻ và quần chúng lại thụ động trong tâm lý rã hàng và bỏ cuộc? Điều trước hết chúng ta phải làm là xây dựng đội ngũ dân chủ để tạo niềm tin và để cống hiến cho những giá trị đạo đức một sự hiện hữu cụ thể bằng xương bằng thịt làm điểm hẹn cho những con người còn ý chí hoặc còn có thể đánh thức và động viên. Những giá trị tình cảm và đạo đức chỉ có thể phục hồi bằng sự hiện hữu của một lực lượng những người chuyên chở chúng chứ không thể bằng thảo luận và lý luận.

Bằng cách dứt khoát đoạn tuyệt với văn hóa nhân sĩ của tầng lớp cha anh và quả quyết sống như những con người tự do, lớp người trẻ sẽ có những đóng góp thiết thực để tiến trình dân chủ trở nên nhanh chóng hơn. Người trẻ sẽ hiểu, người trẻ đang hiểu, rằng tự do và dân chủ không bao giờ miễn phí mà luôn luôn đòi hỏi phấn đấu và hy sinh để có.
Những dữ kiện gần đây đang thai nghén một hiện tượng khá mới và rất tích cực cho tiến trình dân chủ: tuổi trẻ đang chuyển mình dấn thân với một thái độ đòi hỏi thay vì xin xỏ những quyền lợi căn bản của người dân.
Tuổi trẻ cần mọi tầng lớp xã hội nhiệt liệt ủng hộ và nhiệt tình hỗ trợ. Thiếu vắng khâu này sẽ gián tiếp bật đèn xanh để chính quyền thẳng tay đàn áp tuổi trẻ.
Hoàng Tâm Nguyên

Không có nhận xét nào: