Hoàng Tâm Nguyên

Cẩm nang chính trị
Bài 3.  Vai trò trí thức
Thế nào là một trí thức? Có bao nhiêu nhà tư tưởng đặt ra câu hỏi này thì có bấy nhiêu câu trả lời. Cũng tương tự như từ ‘triết học’ mà nó có quan hệ khá gần gũi, khái niệm ‘người trí thức’ không có một định nghĩa chung nhất - được mọi người cùng chấp nhận.
Tuy nhiên ngay cả người bình thường cũng có thể nhận định khá đúng ai là trí thức ai không phải là trí thức trong những trường hợp cụ thể. Thí dụ như một người dân thường cũng có thể đánh giá một người có học vị và địa vị cao nhưng qụy lụy chạy theo danh lợi là không phải trí thức. Ở đây trí thức là một thái độ. Trong một trường hợp khác trí thức có thể là một trình độ; người ta có thể nói "như thế cũng được rồi, ông ta không phải là một trí thức" để bào chữa cho một phát biểu thiếu sáng sủa và chính xác.
1/Trí thức?
Trí thức cũng là những người suy nghĩ và lý luận một cách lương thiện, nghĩa là lý luận để tìm đến một kết luận hợp lý chứ không lý luận để biện minh cho một kết luận đã có sẵn, bị áp đặt hoặc tự áp đặt. Và quan trọng hơn, dám sống trung thực với lập trường của mình bằng mọi giá. Dấn thân chính trị và phản biện cũng là một cốt lõi trong định nghĩa về người trí thức. Nói chung, có một đồng thuận là trí thức phải là người phản kháng hoặc sẵn sàng phản kháng. Không thể khác, chức năng của trí thức là cải thiện và đổi mới, nghĩa là phản bác cái hiện có để cổ võ cho cái phải có hoặc nên có.
Tóm lại nếu phải định nghĩa người trí thức thì ta có thể nói : trí thức là những người do được đào tạo hay tự học đã đạt tới một trình độ hiểu biết và lý luận trên trung bình; quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội, suy nghĩ một cách lương thiện, biết tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó; đồng thời sẵn sàng thách thức mọi thế lực để bảo vệ quan điểm của mình.

2/Đặc trưng của trí thức
Không nên lẫn lộn ‘trí thức’ với những vai trò khác trong xã hội, như học giả, nhà văn, chuyên gia, nhà khoa học v.v. Những người này là trí thức hay không tùy theo họ có hiểu biết về những vấn đề chính trị xã hội và có sẵn sàng lên tiếng hay không.Tư cách trí thức chỉ đặt ra đối với những người có quan tâm chính trị và xã hội. Càng không nên lẫn lộn trí thức với cụm từ Marx – Lenin: "lao động trí óc". Hai danh xưng này không chỉ khác nhau mà còn đối chọi với nhau. Người trí thức chủ yếu là trí thức ngoài công việc "lao động" hàng ngày, có thể đã nghỉ hưu; thậm chí có thể là trí thức trên giường bệnh hay trong nhà tù. Từng có một câu chuyện về một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong trại cải tạo sau biến cố năm 1975, vẫn tiếp tục tranh luận rằng chủ nghĩa cộng sản là sai cho đến khi bị xử bắn. Anh ta là một trí thức.
Một người là trí thức khi quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội và sẵn sàng phản bác những bất công và vô lý để cổ võ cho lẽ phải và công lý. Các chế độ cộng sản toàn trị không chấp nhận sự phản kháng, do đó chúng phủ nhận vai trò trí thức. Đừng nên quên rằng đã có một thời mà khẩu hiệu của các chế độ cộng sản (không riêng gì tại Việt Nam) là "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Họ chủ trương tiêu diệt trí thức để tiêu diệt mọi mầm mống chống đối. Đối với họ chỉ có những người lao động, lao động chân tay và lao động trí óc. Chỉ gần đây thôi họ mới thừa nhận sự hiện hữu của các trí thức, nhưng lại đồng hóa trí thức với thành phần lao động trí óc chứ vẫn không nhìn nhận trí thức như một thành phần chính trị và xã hội. Nhưng cụm từ "lao động trí óc" tự nó đã trở thành vô nghĩa. Ngày nay trong các nước phát triển tuyệt đại đa số công nhân không còn làm việc bằng chân tay. Một nhân viên sở thuế, một thư ký tòa án, một chuyên viên chế tạo các trò chơi điện tử, một tài xế đường sắt cao tốc v.v.. đều "lao động trí óc" cả, nhưng không phải vì thế mà họ là những trí thức. Trí thức là một khái niệm chính trị.

3/Thái độ bạc nhược của trí thức
Tại Việt Nam chỉ cần vài chục người thiệt mạng vì xuống đường đòi dân chủ thì chắc chắn tình thế đã thay đổi rồi. Việt Nam còn chín muồi cho dân chủ hơn các nước Ả Rập, nhưng tại sao chưa có chuyển động? Câu trả lời giản dị là quần chúng chỉ đứng dậy nếu được động viên và lãnh đạo bởi trí thức, thông qua các tổ chức dân chủ, nhưng trí thức Việt Nam đã không đảm nhiệm vai trò của mình.
Nếu có một điều cần nghĩ lại trong hiện tình đất nước thì đó là hợp đồng giữa trí thức và xã hội. Đất nước tiến bộ nào xét cho cùng cũng đặt nền tảng trên một hợp đồng theo đó trí thức lãnh đạo xã hội và xã hội kính trọng trí thức vì họ hiểu biết, lương thiện, đi trước quần chúng và đủ dũng cảm để chấp nhận thử thách. Chúng ta thiếu một hợp đồng như thế. Trí thức không đảm nhiệm vai trò lãnh đạo và quần chúng coi thường trí thức. Đừng vì thấy người Việt Nam trọng bằng cấp mà nghĩ rằng họ kính trọng trí thức. Tại Pháp cũng là nước có rất nhiều công chức, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy là đa số người Pháp đánh giá rất thấp công chức nhưng đồng thời đa số cũng muốn con cái họ làm công chức bởi vì làm công chức nhàn hạ và an toàn. Thèm muốn không đồng nghĩa với kính trọng.
Chỉ cần một cố gắng học hỏi khiêm tốn thôi, trí thức Việt Nam cũng hiểu ngay rằng chính trị là một môn học rất phức tạp – Ciceron, 21 thế kỷ trước, từng nói rằng chính trị bao gồm mọi bộ môn - và hoạt động chính trị đòi hỏi những hiểu biết rất đặc biệt. Điều đầu tiên họ sẽ khám phá ra là đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả mà luôn luôn là đấu tranh có tổ chức, và họ sẽ hiểu là hoạt động cá nhân chỉ đóng góp cho cuộc vận động dân chủ nếu nhắm hỗ trợ một tổ chức dân chủ. Sự thiếu hiểu biết của trí thức chính là nguyên nhân đưa tới bế tắc kéo dài: trí thức đang từ chối đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh đổi đời; quần chúng khinh trí thức nên không có lãnh đạo và không thể đứng dậy. Cuối cùng quyền lực vẫn ở trong tay những kẻ tồi dở nhưng có bạo lực. Bao giờ trí thức Việt Nam mới giác ngộ?
Nói rằng trí thức Việt Nam không biết gì về chính trị có thể sẽ bị nhiều người cho là nói quá đáng. Nhưng sự thực là như thế. Họ không biết điều căn bản nhất trong những điều phải biết về chính trị, đó là hoạt động chính trị không bao giờ là có thể là hoạt động cá nhân cả mà luôn luôn phải là hoạt động có tổ chức. Điều này đúng cho mọi hoạt động, nhưng đặc biệt đúng trong hoạt động chính trị, và đúng một cách tuyệt đối cho đấu tranh chính trị. Họ cũng không hiểu một điều rất cơ bản khác là không thể có một chế độ dân chủ nếu không có các chính đảng đúng nghĩa. Không hiểu được những điều cơ bản này đã là nguyên nhân của nhiều ngộ nhận lớn khác. Thí dụ, chính trong khi suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh để xây dựng một chính đảng người ta sẽ hiểu rằng một chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể xây dựng được nếu được quan niệm như một dụng cụ để thể hiện một tư tưởng chính trị nghiêm túc và để thực hiện một dự án chính trị đúng đắn, và dù vậy cũng chỉ có thể là thành quả của những cố gắng xây dựng bền bỉ trong nhiều năm. Không có tư tưởng chính trị thì không xây dựng được đảng; và nếu đã có tổ chức thì cũng không giữ lâu bền được – đảng cộng sản Việt Nam đang mất thực chất để chỉ còn là một hư cấu vì đã mất lý tưởng.
Tuy nhiên, nếu không có tổ chức chính trị thì cũng rất khó có kiến thức chính trị bởi tổ chức là môi trường bắt buộc để trao đổi và học hỏi những kiến thức chính trị. Mọi tổ chức đều là môi trường sản xuất và sàng lọc ý kiến, nhưng tổ chức chính trị, hay chính đảng, là môi trường không có không được để có những ý kiến đúng về đấu tranh chính trị. Không có chính đảng đúng nghĩa người ta chỉ có thể hụt hẫng, làm những việc hời hợt phù phiếm mỗi khi bị kích xúc thấy cần hoặc có thể hành động. Một cách cụ thể, nhiều vị trí thức nếu đã sinh hoạt trong một tổ chức chính trị đúng nghĩa đã không hành động như họ đã hành động. Họ đã hiểu rằng không thể vận động quần chúng như thế; quần chúng chỉ đứng dậy đấu tranh nếu thấy có một tổ chức đủ mạnh để lãnh đạo họ và cho họ niềm tin vào thắng lợi chắc chắn. Họ cũng sẽ biết rằng thành phần công nhân tại Việt Nam còn phải được chuẩn bị rất nhiều trước khi có thể động viên. Đồng thời, họ sẽ không bị hớp hồn trước không khí tưng bừng của những đám đông hàng triệu người hoan hô những cuộc cách mạng đã thành công; vì họ sẽ hiểu rằng không phải vì được quần chúng xuống đường ủng hộ mà các cuộc cách mạng đó đã thành công. Trái lại quần chúng đã xuống đường ủng hộ vì chúng đã thành công, và cuộc cách mạng đã thành công là nhờ sự phấn đấu kiên trì của một tổ chức.
Phải cố gắng sống thực với mình. Cho tới nay hình như điều quan trọng đối với trí thức Việt Nam không phải là những gì mình nghĩ về mình mà là cái nhìn của người khác về mình. Một trí thức Việt Nam có thể làm những điều rất tồi tàn mà không thấy xấu hổ trừ khi bị phát giác. Kết quả là chúng ta đóng kịch, đeo mặt nạ và nói dối với nhau. Những con người như thế không thể xây dựng được với nhau một tổ chức lâu bền vì trong sinh hoạt chung cuối cùng con người thực bắt buộc phải xuất hiện. Lý do chính khiến cho đến nay những người dân chủ chỉ có những hợp tác lỏng lẻo và tạm bợ là vì họ không đến với nhau bằng căn cước thực.
Đất nước không phải đã không có cơ hội lớn. 1945, 1954, 1975, 1989 đã là những cơ hội bị bỏ lỡ vì chúng ta thiếu những trí thức chính trị.
Quần chúng Việt Nam đã chín muồi cho một cuộc chuyển động về dân chủ nhưng trí thức thì không. Chúng ta giống như một đoàn tàu mà các toa tàu đều đã sẵn sàng nhưng động cơ chưa chạy.
Trí thức Việt Nam thừa hưởng của giai cấp kẻ sĩ ít nhất hai tật nguyền nặng nề.
-Một là họ hoàn toàn không có văn hóa chính trị. Những sĩ tử đậu những khoá thi thơ phú vớ vẩn được cử làm quan trị dân để lại cho lớp hậu duệ thành kiến tệ hại là làm chính trị không cần phải học. Trí thức Việt Nam không có kiến thức chính trị không phải vì không học nổi mà vì không thấy cần phải học.
-Tật nguyền thứ hai, còn nghiêm trọng hơn, là họ không yêu nước. Tổ quốc trước hết là đồng bào, yêu nước trước hết là quí trọng đồng bào của mình nhưng mộng đời của kẻ sĩ trong hàng ngàn năm đã chỉ là được làm quan để "giúp vua trị nước", nghĩa là làm tay sai cho một bạo quyền để thống trị và bóc lột quần chúng. Trong mỗi trí thức Việt Nam đều mai phục một tên phản quốc. Đó là lý do khiến trí thức Việt Nam không phẫn nộ trước một chính quyền kéo đất nước vào thảm họa một cách hung bạo, hay không đủ phẫn nộ để thấy phải có phản ứng.

4/Trí thức và dân chủ

Những người dân chủ Việt Nam và Trung Quốc cũng phải đối đầu các chính quyền hung bạo nhưng đầy phương tiện và được thế giới nhìn nhận. Trừ khi chọn giải pháp bạo lực vừa điên rồ vừa vô vọng, họ cũng phải chấp nhận rằng lộ trình dân chủ hóa sẽ phải đi qua những thỏa hiệp giai đoạn. Tuy vậy, thỏa hiệp cũng là hy sinh, dù chỉ là một phần và tạm thời, những đòi hỏi chính đáng, do đó mâu thuẫn với thái độ trí thức.
Phương cách duy nhất đảm bảo được sự trọn vẹn tư cách trí thức là phải nhập cuộc, không chỉ bằng lời nói mà còn qua việc tham dự những hành động chung. Sự nhập cuộc trong một tổ chức sẽ giúp người trí thức thoát ra khỏi vỏ bọc đơn độc khi cùng bày tỏ một thái độ phản kháng. Khi tổ chức chấp nhận thỏa hiệp - từng phần và giai đoạn – nhằm đột phá tình trạng nghẽn tắc trong khi tiếp cận và đàm phán - người trí thức sẽ được dự phần thảo luận và biểu quyết theo phương thức đạt đồng thuận. Lúc ấy, người trí thức sẽ cùng với tổ chức (tức là tất cả thành viên khác) vượt qua một quãng đường vòng – nhưng vẫn kiên trì theo hướng ấn định của lộ trình - họ sẽ không phải lo bị đánh mất bản thân.
Nói cách khác, chỉ có tổ chức mới bảo đảm sức mạnh của sự tự do phát biểu như một lực lượng. Chỉ có tổ chức mới đủ thực lực đối thoại trọn vẹn và có quyền thỏa hiệp khi tình huống có nhu cầu; đối với một cá nhân, thỏa hiệp là từ bỏ cương vị trí thức và tự đánh mất mình.
Đảng cộng sản đang cư xử như một lực lượng chiếm đóng áp đặt sự thống trị của họ lên nhân dân Việt Nam. Dấn thân đấu tranh cho dân chủ là mệnh lệnh của lương tâm và phẩm giá, điều này không cần và cũng không thể bàn cãi. Người trí thức Việt Nam chỉ có thể là người phản kháng, theo một trong hai chọn lựa vừa trình bày. Nếu hiểu như thế thì dù nhân nhượng coi trí thức là người trong phần lớn các trường hợp, chứ không cần mọi lúc và mọi nơi, hành xử đúng theo tiêu chuẩn trí thức trên đây, chúng ta vẫn phải nhìn nhận rằng Việt Nam có rất ít trí thức, quá ít để có thể nói tới một tầng lớp trí thức. Người trí thức phải là người dấn thân chính trị nhưng những người dấn thân chính trị quá ít, và trong số những người hoạt động chính trị một tỷ lệ khá lớn cũng không phải là trí thức.
Đa số những người mà chúng ta gọi là trí thức thực ra chỉ là những "chuẩn trí thức", nghĩa là những người có kiến thức và khả năng lý luận. Với một cố gắng học hỏi vừa phải họ có thể hiểu biết về chính trị và, nếu dám sống thực nói thẳng, có thể trở thành những người trí thức.
Nhưng cố gắng này họ không chịu làm vì họ có thành kiến là chính trị không cần phải học. Bất cứ ai hễ có quyền lực hoặc có bằng cấp cũng cảm thấy có đủ tư cách để nói về chính trị một cách tự tin, trong khi – về kiến thức thực chất – họ không có hiểu biết chính trị.

5/Văn hóa chính trị

Thái độ vô lễ với kiến thức chính trị này là một di sản văn hóa và lịch sử. Trong hàng nghìn năm, giai cấp sĩ, tiền thân của những người được coi hoặc tự coi là trí thức hiện nay, là một loại người vừa vô học vừa vô đạo về mặt chính trị. Họ không phải là trí thức mà còn là cái ngược lại của trí thức. Nghị luận đối với họ chỉ là tìm mọi lý lẽ để biện hộ cho trật tự chính trị sẵn có. Đó là những người mà mộng đời là được làm tay sai không điều kiện cho các bạo quyền để hà hiếp và bóc lột những người dân cùng khổ. Trình độ hiểu biết về sinh hoạt xã hội của họ còn thấp hơn quần chúng. Sau đó là chế độ cộng sản trong đó "tư tưởng chính trị" duy nhất được giảng dạy là chủ nghĩa Marx - Lenin, một chủ nghĩa khủng bố, và trong đó những người có chút kiến thức chỉ có vai trò "lao động trí óc", nghĩa là làm những dụng cụ ngoan ngoãn cho chính quyền. Chúng ta không có văn hóa chính trị. Truyền thống chính trị của chúng ta coi làm chính trị chỉ là để làm quan và làm quan không cần kiến thức chính trị vì chỉ có quyền trên người dân chứ không có trách nhiệm với người dân. Chỉ có "chức quyền" chứ không có "chức trách".
Di sản đó còn để lại một tật nguyền trí tuệ lớn khác. Đó là phần lớn những người có học vị và địa vị không lý luận một cách lành mạnh. Họ không lý luận để tìm một kết luận đúng mà thường chỉ lý luận để biện hộ cho một kết luận có sẵn. Một nhà khoa học lớn nói rằng người trí thức là người lao động trí óc, không liên hệ gì với phản biện. Phát biểu này chứng tỏ rằng ông không hề bỏ thời giờ tìm hiểu thế nào là người trí thức. Ông nói như thế chỉ vì ông có những lý do khác để không muốn phản biện. Một nhân sĩ có tên tuổi khác tuyên bố rằng không cần phải bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với trí thức mà chỉ cần nới lỏng. Nhưng làm sao có thể suy nghĩ một cách độc lập và sáng tạo nếu bị "lãnh đạo"? Hơn nữa lý do để phải bỏ sợi dây xích tròng vào cổ trí thức đâu phải vì nó xiết quá chặt làm đau cổ! Sợi dây xích làm nhục, và làm thui chột trí tuệ, trước khi làm đau. Vị nhân sĩ này nói như thế vì không muốn bị coi là "chống đảng" với những hậu quả bất lợi. Một vị khác nói rằng người Việt hải ngoại không còn thắc mắc về chế độ chính trị tại Việt Nam nữa. Cũng là một phát biểu thực dụng để làm vừa lòng chính quyền dù hoàn toàn sai. Thực ra phải nói một cách ngắn gọn là chúng ta thiếu trí thức bởi vì trí thức là một khái niệm chính trị. Không có trí thức phi chính trị.

6/Qua các chế độ chính trị

Trong sinh hoạt chính trị, các cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa chỉ là những nhân viên tạm thời không tay nghề đến với hoạt động chính trị để có một chút công danh. Họ làm chính trị theo kiểu nghĩ rằng làm chính trị là mánh mung, và công khai bày tỏ không thích chính trị. Nhiều người xuất phát từ thành phần trung lưu, vươn lên nhờ học vấn và chuyên cần nhưng cũng chỉ lên được tới chức vụ anh đã giữ nhờ đã hội nhập với "môi trường", nghĩa là không bộc lộ những thắc mắc về chính trị.
Nhiều trí thức miền Bắc lại có những biểu hiện càng thất vọng hơn. Một số nhắc lại một cách ngớ ngẩn những giáo điều Marx-Lenin, tất cả không những mù tịt về chính trị mà còn thiếu ngay cả những kiến thức rất sơ đẳng về thế giới, kể cả về Trung Quốc và Liên Xô. Chỉ sau một thời gian ngắn có thể nhận ra là trí thức chẳng có vai trò gì trong guồng máy cộng sản, đã thế còn bị bưng bít và khống chế; qua những tâm sự riêng tư họ tỏ ra rất bất mãn nhưng ngoài mặt vẫn tâng bốc chế độ bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.
Chỉ có một giống người. Mọi dân tộc đều như nhau về trí tuệ cũng như về sự dũng cảm. Khi một dân tộc tỏ ra bạc nhược thì đó chỉ là vì thành phần tinh nhuệ, nghĩa là thành phần trí thức, của nó chưa xứng đáng.
Trong cố gắng này chúng ta cần lên án mạnh mẽ và dứt khoát chủ nghĩa nhân sĩ, nghĩa là làm chính trị cá nhân hay liên kết giữa một vài cá nhân. Về bản chất, đây chỉ là chủ nghĩa luồn lách trong sinh hoạt chính trị. Một người làm sao có thể kêu gọi quần chúng từ bỏ chủ nghĩa luồn lách nếu chính mình cũng luồn lách? Một tổ chức làm sao thuyết phục quần chúng kết hợp đấu tranh nếu vẫn tôn vinh những người xé lẻ?

7/ Trí thức Việt Nam đang làm gì?

Người trí thức dĩ nhiên cần có một vốn liếng hiểu biết nào đó, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn nhiều là người trí thức phải biết tự đặt cho mình những vấn đề và tự tìm giải đáp của mình cho những vấn đề đó. Bộ nhớ của một máy vi tính có thể chứa đựng rất nhiều kiến thức và lý luận cao siêu nhưng không phải vì thế mà chiếc máy vi tính là một trí thức. Cái không bình thường của đa số trí thức Việt Nam là chỉ học để có kiến thức, trong nhiều trường hợp chỉ là để được coi là có kiến thức qua bằng cấp, và để lặp lại những lý luận có sẵn, với mục đích là để có được một địa vị trong xã hội. Suy nghĩ độc lập, bằng cái đầu của chính mình, không phải là sở trường của trí thức Việt Nam.
Chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ bị đào thải. Nhưng bao giờ nó sẽ bị đào thải là một câu hỏi khó trả lời bởi vì còn một ẩn số quá lớn: cách ứng xử của trí thức Việt Nam. Cuộc cách mạng nào cũng phải do trí thức chủ xướng và lãnh đạo và trí thức chỉ đảm nhiệm được vai trò của mình nếu dũng cảm và sáng suốt. Dũng cảm để dám chống lại thay vì phục tùng sự thô bạo, sáng suốt để hiểu rằng phải có tổ chức mới có sức mạnh.
Cho tới nay, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, trí thức Việt Nam đã thiếu cả dũng cảm lẫn sáng suốt. Đất nước ta như đoàn tầu mà các toa đều đã sẵn sàng nhưng đầu tầu không chạy. Trí thức Việt Nam đi sau thay vì đi trước và dẫn đường cho quần chúng như trí thức các nước khác.

8/Thói quen nguỵ biện

Do tập quán trong hàng nghìn năm phải phục tùng tuyệt đối và không điều kiện các vua chúa, sau đó là Đảng; không những phải chấp hành mà còn phải ca tụng những mệnh lệnh bất nhân bất nghĩa; kẻ sĩ, rồi trí thức Việt Nam có thể vì những lý do hoàn toàn cá nhân, như quyền lợi hoặc khiếp sợ, chấp nhận những chọn lựa mà trong thâm tâm mình cũng biết là sai rồi biện luận để bào chữa cho chúng như là những chọn lựa đúng. Tập quán tệ hại này ngăn cản mọi thảo luận nghiêm chỉnh.
Một thí dụ điển hình về sự hụt hẫng của trí thức Việt Nam là có rất nhiều người cho rằng con đường đúng nhất để dân chủ hóa đất nước là phục tùng chế độ, hợp tác với nó và cải tiến nó từ bên trong. Lập trường này lôi kéo được đa số trí thức Việt Nam vì sự tiện nghi của nó, nhưng nó sai hoàn toàn. Thay đổi xã hội là một vấn đề đã được nghiên cứu rất đầy đủ và mọi nghiên cứu đều kết luận ngược lại. Muốn thay đổi một chính quyền xấu thì phải phản kháng nó, phản kháng một cách ôn hòa và xây dựng nếu có thể được nhưng phải phản kháng. Phục tùng và hợp tác với một chế độ bạo ngược và tham nhũng chỉ củng cố nó chứ không thay đổi được nó, trái lại người ta sẽ đánh mất chính mình và bị lưu manh hóa. Hàng triệu kẻ sĩ Trung Quốc và Việt Nam trong hàng ngàn năm đã quỳ mọp trước các vua chúa để tâu đạo lý thánh hiền nhưng đã không thay đổi được các chế độ quân chủ mà chỉ khiến chúng trở thành khắc nghiệt hơn với thời gian. Nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ ra một chút thời giờ, chỉ một chút thời giờ thôi, để học hỏi và suy nghĩ thì cái lập luận "hợp tác để cải tiến từ bên trong" đã không thể có.

9/ Trí thức chính trị: ánh sáng và hy vọng của quốc gia

Chúng ta là một dân tộc cần mẫn với một địa lý thuận lợi, nhưng tại sao thu nhập trung bình của một người Việt Nam lại chỉ bằng một phần mười mức trung bình thế giới? Chúng ta tự hào có bốn nghìn năm lịch sử nhưng tại sao Việt Nam lại nằm trong danh sách ít ỏi của các dân tộc chưa có tự do? Tại sao chúng ta phải trải qua ba mươi năm chiến tranh đẫm máu để chỉ chuốc lấy kết quả là nghèo khổ, lạc hậu và độc tài? Cùng một lý do: chúng ta đã không có lãnh đạo thông minh, và chúng ta không có lãnh đạo thông minh vì chúng ta thiếu những trí thức đúng nghĩa, trí thức chính trị.

Giải thích thế nào sự thiếu vắng này? Chắc chắn không phải vì chúng ta thiếu trí tuệ. Rất nhiều người Việt Nam thừa sức học hỏi để biết dân chủ là gì và phải đấu tranh cho dân chủ như thế nào nếu thực sự muốn. Cũng không phải vì chế độ cộng sản đàn áp quá hung bạo. Thành trì của chế độ hiện nay đã đủ rệu rã và các phương tiện truyền thông đã đủ mạnh để người trí thức có thể nói hết những điều mình cần nói. Với một chút thận trọng và khôn ngoan họ cũng có thể kết hợp với nhau thành lực lượng. Vấn đề thực sự chỉ là họ có muốn hay không, nói cách khác họ có phải là những trí thức đúng nghĩa hay không. Mặt khác, tại hải ngoại có hàng trăm ngàn người gốc Việt đã tốt nghiệp đại học, họ không hề bị chính quyền cộng sản khống chế - nhưng trong họ vẫn không có nổi một lực luợng dân chủ có tầm vóc. Tại sao vậy?
Muốn hay không muốn không phải là một vấn đề của lý luận mà là một vấn đề của tình cảm và ý chí. Thực tế phũ phàng là đại đa số những người Việt Nam được gọi là trí thức không mấy quan tâm đến đất nước và đồng bào họ. Khó có lý luận nào thuyết phục được họ từ bỏ sự vô cảm này, trừ tiếng nói nội tâm của chính họ.
Tại sao Việt Nam vẫn không trút bỏ được một trong những chế độ độc tài tồi tệ nhất thế giới? Dứt khoát không phải là vì dân trí chúng ta thấp hay chí khí dân ta hèn. Cũng không phải vì chính quyền cộng sản quá hung bạo, họ không dám và cũng chưa cần đàn áp đẫm máu. Lý do chỉ là vì chúng ta tuy có khá nhiều trí thức chuyên môn nhưng lại thiếu một lớp trí thức chính trị, nghĩa là một lớp người trăn trở vì sự trở thành của đất nước, đầu tư vào cố gắng học hỏi tư tưởng chính trị và phương thức đấu tranh chính trị; sẵn sàng dấn thân để đất nước được quản trị một cách hợp lý dù phải trả giá đắt. Những người trí thức chính trị đúng nghĩa - tự nhiên biết phải học hỏi những gì, để biết phải làm gì và làm như thế nào trong mỗi giai đoạn. Trong giai đoạn hiện nay họ sẽ hiểu ngay là phải xây dựng những tổ chức dân chủ và sẽ đánh giá mọi hoạt động theo tiêu chuẩn chúng đóng góp gì cho tiến trình xây dựng một lực lượng dân chủ lành mạnh.

Thảm kịch của chúng ta là sự thiếu vắng một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp của những người có kiến thức chính trị, hiểu biết kỹ thuật đấu tranh chính trị và quyết tâm tranh đấu để đất nước được quản lý một cách đúng đắn. Một bằng cớ rằng chúng ta không có tầng lớp trí thức chính trị là tuyệt đại bộ phận trí thức Việt Nam, kể cả những người được coi là dấn thân chính trị, vẫn chưa hiểu rằng một tổ chức dân chủ mạnh là điều kiện không có không được. Xây dựng một tổ chức dân chủ mạnh cũng là xây dựng một đội ngũ trí thức chính trị, điều kiện bắt buộc để đưa đất nước vào kỷ nguyên dân chủ nhưng chúng ta vẫn chưa có.

Nhưng chúng ta có quyền hy vọng vì một lý do khác. Lớp trí thức cũ có thức tỉnh và nhập cuộc thì càng tốt nhưng họ không còn là thành phần không có không được nữa. Một lớp trí thức mới đã xuất hiện và ngày càng đông đảo. Họ không phải chỉ là những sinh viên. Các sinh viên chỉ là một thiểu số. Trong đại đa số họ là những người ở lứa tuổi 25 – 45, đã tốt nghiệp và đã tự lập. Họ gặp nhau, kết bạn và trao đổi với nhau trên mạng qua các Blog, Twitter, Facebook. Họ đã thất vọng với thế hệ cha anh và có lý. Thế hệ F. Họ ngày càng đông đảo và những trao đổi của họ càng ngày càng có chất lượng. Thực tế cơ bản của Việt Nam hiện nay là đang có hai không gian chính trị, một không gian thực trong đó người ta bắt buộc phải nói dối và một không gian ảo trong đó người ta nói thực. Chính quyền cộng sản khống chế không gian thực nhưng đã bị đánh bật khỏi không gian ảo mặc dù những phương tiện khổng lồ và một đội ngũ công an mạng hùng hậu bởi vì không có gì để nói. Dùi cui và chó nghiệp vụ không thể sử dụng trên mạng. Trong thế giới ngày nay không gian mạng quan trọng hơn hẳn không gian thực và ngày càng áp đảo hơn nữa. Đã thất bại trên không gian mạng thì chắc chắn sẽ thất bại trên thế giới thực. Một sản phẩm của không gian mạng là lớp người mà Việt Nam mong đợi nhưng chưa có: lớp trí thức chính trị. Thắng lợi của dân chủ sẽ tới khi lớp trí thức này đủ mạnh và gắn bó để dắt tay nhau từ không gian mạng bước ra đời thực. Quần chúng đã chín muồi và đang chờ đợi họ.
Hoàng Tâm Nguyên

Không có nhận xét nào: