Hoàng Tâm Nguyên


Bài 2. Dân chủ là gì?
“…Đặc điểm của làn sóng dân chủ thứ ba là nó đã hoàn toàn diễn ra trong hòa bình. Vũ khí nguyên tử và những quân đoàn hùng hậu của Minh Ước Vacxava đã không bảo vệ được Liên Xô
và các chế độ cộng sản Đông Âu bởi vì chủ nghĩa Marx - Lenin đã sụp đổ trong đầu và trong tim các dân tộc…”
Dân chủ là phương thức tổ chức xã hội đặt nền tảng trên cá nhân và các quyền tự do cá nhân. Dân chủ là cách thể hiện tự do trong đời sống xã hội. Dân chủ từ khi ra đời đã không ngừng bị sự phản công của các thế lực chuyên chính để dập tắt dân chủ bằng bạo lực và phủ nhận dân chủ bằng lý luận. Hai mặt trận chống dân chủ này luôn luôn và bắt buộc đi đôi với nhau, vì chế độ chính trị nào cũng phải đặt trên hai cột trụ thuyết phục và khuất phục, trong đó thuyết phục là chính. Thuyết phục để khỏi phải dùng tới bạo lực, bạo lực chỉ dùng để khuất phục những phần tử không thể thuyết phục.
1/Lịch sử nhân loại
Có thể nói lịch sử nhân loại là cuộc hành trình của con người về tự do; và vì dân chủ là phương thức tổ chức xã hội để thực hiện tự do nên cũng có thể nói lịch sử thế giới là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ. Nhưng dân chủ là cách sinh hoạt tự nhiên của xã hội văn minh nên nó chín muồi dần với đà tiến hoá của xã hội và tới một mức độ nào đó nó đủ mạnh để san bằng một số trở ngại đồng thời đánh đổ một số chế độ bạo ngược.
Do sự chống đối gay gắt của độc tài, dân chủ không tiến triển một cách đều đặn mà theo từng đợt, mỗi đợt nhắm bác bỏ một chủ nghĩa và đánh đổ một số chế độ độc tài lấy chủ nghĩa đó làm nền tảng hoặc nhờ chủ nghĩa đó mà tồn tại. Ngược lại, các chế độ độc tài cũng chống trả một cách dai dẳng, chúng không ngừng tìm kiếm những lập luận mới để thích nghi tối đa nềntảng lý thuyết với thực tại mới để tiếp tục tồn tại. Lịch sử đã chứng kiến các chế độ độc tài nhiều khi phản ứng một cách khá sáng tạo để từ khước dân chủ. Trước mỗi đợt phản công của các thế lực chuyên chính như vậy, dân chủ cần chứng tỏ sự đúng đắn của mình và cũng cần một thời giờ để tự cải tiến và thuyết phục. Cuộc đấu càng khó khăn vì đặc tính của dân chủ là từ khước chiến tranh và bạo lực. Vũ khí của dân chủ là thuyết phục chứ không phải là chiến tranh, vì vậy mà các làn sóng dân chủ chỉ dâng lên khi tâm lý thế giới đã chín muồi cho một thay đổi. Dân chủ thắng không phải vì có bạo lực, mà vì không gì mạnh bằng một ý kiến đã chín muồi.

2/ Dân chủ và tự do cá nhân
Cho tới nay nhiều người vẫn tự hỏi có một chủ nghĩa nào làm nền tảng cho dân chủ không. Câu trả lời dứt khoát là có, và đó là chủ nghĩa cá nhân tự do (Liberal individualism), hay gọi tắt là chủ nghĩa cá nhân. Dân chủ là thể hiện của chủ nghĩa cá nhân. Tinh thần nền tảng của chủ nghĩa cá nhân là lấy cá nhân làm đối tượng phục vụ và dành cho cá nhân chỗ đứng trước hết và trên hết. Niềm tin nền tảng của nó là con người tự do sáng tạo hơn, có tinh thần trách nhiệm hơn, có khả năng lớn hơn và đóng góp nhiều hơn. Cá nhân ở đây không có nghĩa là "bản thân mình" mà phải được hiểu là con người được nhìn một cách độc lập với tư cách thành viên của một tập thể nào đó. Con người này vừa trừu tượng vừa phổ cập, vì không là riêng ai cả nhưng lại hiện diện trong mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, chính kiến, thành phần xã hội v.v..., và vì thế được coi là giá trị cao nhất.
Bản Tuyên Ngôn Phổ Cập Về Quyền Con Người (hay Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) có thể được coi là tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân; nó qui định một không gian cá nhân không thể xâm phạm và một không gian công quyền thuộc nhà nước, ở giữa là một không gian xã hội dân sự gồm các kết hợp của người dân không lệ thuộc chính quyền. Trong triết lý chính trị này không có "tổ quốc trên hết", quốc gia là một tình cảm và một không gian liên đới, chính quyền được nhìn như công cụ để tổ chức và bảo đảm các quyền tự do cá nhân, để tự do của người này không huỷ diệt tự do của người khác, nhưng tự do của người này chỉ dừng lại để tự do của người khác bắt đầu. Một chính quyền như thế là một chính quyền dân chủ.
Có thể nói là mọi người Việt Nam đều muốn dân chủ, kể cả đa số đảng viên cộng sản. Nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa có dân chủ? Câu trả lời có thể chỉ giản dị là tuy chúng ta muốn dân chủ nhưng dân chủ lại không muốn chúng ta. Đại bộ phận người Việt Nam, dù cộng sản hay phi cộng sản, dù ở miền Nam hay miền Bắc; trong một thời gian dài đã chỉ biết có chủ nghĩa tập thể, đã chỉ nhắm xây dựng những chế độ độc tài dưới các dạng khác nhau; không những thế còn ngưỡng mộ bạo lực. Tâm lý chúng ta thực ra chưa thay đổi bao nhiêu. Chúng ta thấy các nước dân chủ giàu mạnh và tự do cho nên cũng muốn được như họ. Nhưng thèm muốn không phải là tình yêu. Chúng ta không yêu dân chủ đến mức độ có thể phấn đấu cho nó. Không có gì ngạc nhiên nếu dân chủ không muốn chúng ta. Chúng ta cần hòa giải với dân chủ, trước hết với chủ nghĩa nền tảng của nó: chủ nghĩa cá nhân.

3/ Văn hóa dân chủ và quốc gia
Văn hóa dân chủ coi quốc gia trước hết là một dự án tương lai chung của những con người tự do và chính quyền chỉ là dụng cụ để thực hiện dự án này. Phải nắm vững văn hóa dân chủ để có thể giải thích và thuyết phục quần chúng; nếu không tự do, dân chủ chỉ là những từ ngữ trừu tượng và "chính quyền của dân, do dân và vì dân" chỉ là khẩu hiệu.
Có hiểu đúng được văn hóa dân chủ thì xét trên bình diện vĩ mô, sẽ nhận định rõ được khái niệm quốc gia và vai trò của chính quyền trong quốc gia ấy. Đồng thời chúng ta dễ đi đến những đồng thuận thiết thực hơn. Chẳng hạn bản chất của công cuộc dân chủ hóa Việt Nam chính là cuộc đấu tranh giành tự do và dân chủ cho đất nước; chỉ cần đất nước có dân chủ thôi là chúng ta đã toàn thắng rồi, bất kể người cầm quyền là ai. Và nếu hiểu như vậy thì thắng lợi của lực lượng dân chủ không những có thể có mà còn hiển nhiên, tất cả chỉ là vấn đề thời gian.[6] Mặt khác, khó có thể nhìn nhận một cá nhân tham gia đấu tranh – sẽ có những đóng góp hữu ích cho quốc gia - mà bản thân người đó lại không sống và hành xử theo văn hóa dân chủ.

4/ Lợi ích của dân chủ
Nhưng dù lập luận vững tới đâu, thuyết phục quần chúng đứng dậy đấu tranh đòi dân chủ vẫn là một vấn đề rất khó khăn. Quần chúng có thể có cảm tình với phe dân chủ và bỏ phiếu cho những người dân chủ nếu có bầu cử tự do nhưng lại không sẵn sàng chấp nhận những hy sinh để tranh đấu đòi bầu cử tự do. Họ chỉ chấp nhận hy sinh nếu sự hy sinh đó hứa hẹn những quyền lợi cụ thể. Đây là một điểm bối rối lớn cho những người kêu gọi dân chủ.
Ngày nay nếu chúng ta chỉ hứa hẹn tự do và dân chủ thì vẫn chỉ là những hứa hẹn trừu tượng đối với đại đa số quần chúng chưa đủ lý luận để nhìn thấy những phúc lợi của dân chủ. Chúng ta cần một lý luận cụ thể hơn. Và chúng ta có thể có một lập luận giản dị và cụ thể nhưng đầy sức thuyết phục. Đó là giải quyết tệ bất công quá thách đố hiện nay do sự kiện tập trung những đặc quyền đặc lợi vào tay một thiểu số cường hào, các cán bộ trung, cao cấp cộng sản và một số tư sản đỏ. Một cách giản dị, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam hiện nay vào khoảng 124 tỉ USD mỗi năm, trung bình 1400 USD cho mỗi đầu người, nhưng một công nhân hay một nông dân, tiêu biểu cho hơn 70 triệu người, chỉ được 1800 USD mỗi năm (150 USD/tháng) để nuôi một vợ và hai con, trung bình mỗi người là 450 USD mỗi năm. Như vậy trong số 124 tỉ USD có tới 90 tỉ lọt vào tay những người được ưu đãi và gia đình họ, trên dưới 10 triệu người. Hơn 70 triệu người Việt Nam còn lại chỉ chia nhau khoảng 34 tỉ USD.
Giảm bớt bất công là điều bắt buộc để bảo vệ tình tự dân tộc. Giữa những người có thể ăn xài hàng ngàn USD một buổi tối và những người chỉ có 150 USD một tháng để nuôi vợ và hai con không làm gì có tình đồng bào.

5/ Dân chủ và kinh tế
Một thí dụ khác là lập luận cho rằng cứ gác lại những đòi hỏi chính trị và tập trung cố gắng vào phát triển kinh tế (và như vậy nên hợp tác với chính quyền hoặc ít nhất không phản đối) rồi tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ đưa đến dân chủ. Lập luận này có vẻ có bài bản vì quả nhiên trong nhiều trường hợp người ta đã thấy dân chủ và phát triển đi song song với nhau và mọi nghiên cứu đều ghi nhận điều này. Nhưng chỉ cần nhìn sâu hơn một chút thôi thì ta cũng thấy đây hoặc là một nguỵ biện hoặc là một ngộ nhận. Dân chủ đưa đến phát triển kinh tế là điều chắc chắn không ai chối cãi và mọi nghiên cứu đều xác nhận, nhưng điều ngược lại không đúng ; nói rằng tăng trưởng kinh tế đưa đến dân chủ là lẫn lộn nguyên nhân với hậu quả. Điều chắc chắn là mở cửa kinh tế, và tăng trưởng kinh tế sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành dân chủ, với điều kiện là có tranh đấu. Nếu không có đấu tranh chính trị đủ mạnh thì cũng không có gì thay đổi cả. Có nhiều triển vọng là những người sử dụng lập luận này không thành thực mà chỉ ngụy biện bởi vì trong hơn hai mươi năm qua mặc dù kinh tế đã tăng trưởng nhiều nhưng chế độ độc tài vẫn không thay đổi và sự kiện này không hề làm họ phiền lòng. Sự lố bịch của lập luận "tăng trưởng kinh tế tự nó đưa đến dân chủ" thể hiện rõ ràng trong trường hợp mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là "tai họa dầu lửa" (the oil curse) các nước có dầu lửa tăng trưởng kinh tế rất nhanh chóng nhưng đều là những nước không dân chủ, đôi khi, như tại Nga và Venezuela, ngân khố dồi dào còn cho phép chính quyền bóp nghẹt dân chủ. Một lần nữa, nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ chút thời giờ để đọc những nghiên cứu về dân chủ, lập luận này đã bị gạt bỏ từ lâu rồi.
Các nghiên cứu về dân chủ và tiến trình dân chủ hóa rất nhiều. Điều này dễ hiểu vì dân chủ và dân chủ hóa là những vấn đề quan trọng nhất trên thế giới từ một nửa thế kỷ qua, đồng thời cũng là những vấn đề quyết định tương lai của mỗi quốc gia. Không thể và cũng không cần đọc hết những nghiên cứu này bởi vì tựu chung, qua những cách tiếp cận và lý luận khác nhau, chúng đều đi đến những kết luận giống nhau. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt vì chứng tỏ những kết luận này đáng được coi là chắc chắn. Những kết luận này chúng ta đều có thể cảm nhận hoặc dự đoán, đóng góp của những nghiên cứu này là chúng được thực hiện một cách qui mô và khoa học, dựa trên những dữ kiện cụ thể trong rất nhiều quốc gia thuộc những văn hóa rất khác nhau cho nên những kết luận của chúng không phải chỉ là những suy luận mà phải được coi là những sự thực đàng sau các sự kiện và số liệu.

6/ Dân chủ và dân trí
Cần gạt ngay một lập luận hoàn toàn sai theo đó Việt Nam chưa có dân chủ vì dân trí Việt Nam kém. Tất cả các nước dân chủ đều đã có dân chủ vào lúc dân trí của họ còn rất thấp so với Việt Nam hiện nay. Mỹ và các nước Châu Âu đã thiết lập chế độ dân chủ vào lúc mà đa số dân chúng là những nông dân không biết đọc biết viết, chưa có radio, tivi, điện thoại di động, internet, cũng chưa có ngay cả xe đạp, xe máy.
Dân chủ là một bước tiến trí tuệ do các trí thức đề xướng và thiết lập. Các nước dân chủ đã có dân chủ nhờ có được một đội ngũ trí thức xứng đáng.

7/ Dân chủ và chính trị
Cho tới nay triết lý chính trị duy nhất mà chúng ta biết trong suốt dòng lịch sử là triết lý theo đó quyền lực chính trị là tất cả. Đến nay, tâm lý của chúng ta chưa thay đổi bao nhiêu. Ngày xưa vua là trời, hay ít nhất cũng là người thay trời quyết định tất cả, không những quyết định đời sống hàng ngày mà quyết định cả đời sống tâm linh của thần dân. Ngày nay cũng thế, kẻ cầm quyền tự cho mình quyền suy nghĩ cho cả xã hội. Chính trị quyết định tất cả và cũng tập trung tất cả mọi vinh quang. Dân chủ đoạn tuyệt với triết lý chính trị này. Nó đặt xã hội dân sự lên trên quyền lực chính trị. Nhà nước ở dưới và có vai trò phục vụ xã hội dân sự chứ không ở trên và khống chế xã hội dân sự. Sự cao cả và vinh quang không tập trung trong chính quyền mà ở mọi người, mọi nơi và mọi việc. Người ta có thể cao cả dù giữ bất cứ vai trò nào trong xã hội: nhà tư tưởng, nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, giáo viên, thợ may, v.v. nếu làm giỏi, lương thiện và sáng tạo công việc mình làm.
Ở mọi hoạt động, kể cả chính trị, tất cả chỉ là vai trò và công tác, lãnh đạo chỉ là một công tác như mọi công tác khác. Các chế độ độc tài là hậu quả của triết lý chính trị cũ và sai. Nếu quyền lực chính trị là tất cả thì sẽ có những người muốn độc chiếm vì tham vọng và cũng vì để tự vệ. Chính vì chính trị ngạo mạn mà nó bị chiếm đoạt và khống chế và trở thành đối tượng của những tranh giành khốc liệt. Và vì quyền lực chính trị là tất cả mà sự tranh giành quyền lực lây lan ra mọi sinh hoạt. Chúng ta đều đã thấy trong mọi tổ chức, kể cả những tổ chức ái hữu và từ thiện, người ta tranh giành quyền lực với nhau một cách dữ dội. Ngay cả những người hoàn toàn thiếu khả năng cũng cố giành vai trò lãnh đạo, với kết quả là gây đổ vỡ. Tình trạng sẽ khác hẳn nếu người ta quan niệm lãnh đạo như một vai trò trong nhiều vai trò khác, người lãnh đạo không phải là người vinh quang nhất và được kính trọng nhất mà chỉ là người hội được nhiều điều kiện nhất (sức khỏe, thời giờ, kiến thức, v.v.) để đảm nhiệm vai trò lãnh đạo trong một hoàn cảnh nào đó. Chúng ta sẽ tránh được biết bao nhiêu đổ vỡ và phí phạm. Thí dụ này cùng với nhiều thí dụ khác cho thấy là không gì thực tiễn bằng một lý thuyết đúng.
Đảng cộng sản có thể mất quyền, thậm chí sụp đổ, mà đất nước vẫn không có dân chủ, thậm chí còn có thể rơi vào hỗn loạn. Dân chủ không đồng nghĩa với sự tiêu vong của đảng cộng sản.
Tiến trình dân chủ hóa đã hình thành một cách chậm chạp tại Việt Nam, những người dân chủ đang cố gắng thúc đẩy để tăng tốc. Cuộc cách mạng dân chủ sẽ rất dài và khó khăn là một nhận định cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Đánh phá thâm độc và dai dẳng nhất nhắm vào dân chủ là đồng hoá chủ nghĩa cá nhân, nền tảng của dân chủ, với chủ nghĩa vị kỷ, với hệ luận là dân chủ dẫn đến rời rạc và hỗn loạn.

8/ Giá trị của tự do
Sự tụt hậu bi đát của đất nước trong cuộc cách mạng tri thức này phải chặn đứng và đảo ngược bởi vì đất nước giàu hay nghèo, vinh hay nhục, nghĩa là về lâu về dài còn hay mất, tùy thuộc ở cuộc tranh đua này mà vũ khí cơ bản là ý kiến và sáng kiến, những yếu tố chỉ có thể nẩy sinh và phát triển nơi những con người tự do, trong những xã hội dân chủ.
Điều lấn cấn nơi nhiều người, kể cả một số trí thức khoa bảng, khiến họ không lên án một cách dứt khoát các chế độ độc tài là họ không ý thức được rằng trí óc con người là một tổng thể, khi một quyền tự do bị cấm đoán thì mọi khả năng đều bị ảnh hưởng. Một nhà khoa học có thể hoàn toàn không có ý định ứng cử vào quốc hội nhưng nếu bị cấm ứng cử, ông ta cũng không thể sáng tạo ngay trong địa hạt khoa học vì không còn là một con người tự do.

9/ Làn sóng dân chủ thứ tư và cuối cùng
Con đường của các dân tộc về dân chủ là một cuộc hành trình khó khăn vì mới cách đây hơn hai thế kỷ, trên thế giới đã chỉ có những chế độ chuyên chính. Khi dân chủ xuất hiện, các chế độ độc tài đã phản ứng dữ dội, cả bằng bạo lực lẫn lý luận. Dân chủ đã không thể tiến một cách đều đặn nhưng theo từng đợt mà các nhà nghiên cứu gọi là những làn sóng dân chủ. Mỗi làn sóng nhắm bác bỏ một ý thức hệ hay chủ nghĩa, và sau đó đánh đổ một số chế độ lấy chủ nghĩa này làm nền tảng. Giữa hai làn sóng các nước dân chủ phải thỏa hiệp và sống chung với các chế độ độc tài chờ tình thế chín muồi cho một cuộc tiến công mới.
Cho đến nay thế giới đã trải qua ba làn sóng dân chủ. Làn sóng dân chủ đầu tiên bắt đầu với cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ năm 1776 và Cách Mạng Pháp 1789 và nhắm lật đổ các chế độ quân chủ tuyệt đối dựa trên thần quyền. Làn sóng dân chủ thứ hai đã bắt đầu cùng với Thế Chiến II và nhắm đánh đổ chủ nghĩa quốc gia sô vanh. Làn sóng dân chủ thứ ba, khởi đầu từ giữa thập niên 1970, xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản và đánh đổ Liên Xô, hầu hết các chế độ cộng sản và các chế độ độc tài sống nhờ chiêu bài chống cộng.
Đặc điểm của làn sóng dân chủ thứ ba là nó đã hoàn toàn diễn ra trong hòa bình. Vũ khí nguyên tử và những quân đoàn hùng hậu của Minh Ước Vacxava đã không bảo vệ được Liên Xô và các chế độ cộng sản Đông Âu bởi vì chủ nghĩa Marx - Lenin đã sụp đổ trong đầu và trong tim các dân tộc. Nó đã có thể tiếp tục và cuốn đi luôn tất cả các chế độ độc tài, nhưng nó đã khựng lại khi tại hai nước dân chủ cột trụ Mỹ và Pháp, các ông Bill Clinton và Jacques Chirac lên cầm quyền và theo đuổi chính sách đối ngoại thực tiễn, chủ trương hợp tác thay vì tiếp tục tạo áp lực trên Trung Quốc và các chế độ độc tài còn lại. Chủ nghĩa thực tiễn sử dụng lý luận của chủ trương áp lực mềm, hay diễn biến hòa bình, theo đó những trao đổi kinh tế và văn hóa có tác dụng phá bỏ bức tường bưng bít che chắn cho các chế độ cộng sản, thức tỉnh các dân tộc, kích thích những đòi hỏi nhân quyền và sau cùng tạo ra "diễn biến hòa bình", nghĩa là thay đổi chế độ trong hòa bình. Tuy vậy, khác với chủ trương diễn biến hòa bình, chính sách đối ngoại thực tiễn chỉ gia tăng hợp tác và trao đổi tối đa với các nước như Trung Quốc và Việt Nam mà không đi kèm với một áp lực nào về nhân quyền. Kết quả là nó đã giúp cho các chế độ này tăng trưởng kinh tế mà vẫn duy trì chế độ toàn trị.
Nhưng rồi thời gian và cuộc cách mạng truyền thông đã làm công việc của chúng. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng internet, đã làm cho trái đất nhỏ lại và đem các dân tộc tới gần nhau. Các dân tộc trong các quốc gia tự do nhìn thấy sự thô bạo mà đồng loại của họ phải chịu đựng dưới các chế độ độc tài và đòi chính quyền của họ phải can thiệp, các dân tộc dưới các chế độ độc tài nhìn thấy cuộc sống trong các nước dân chủ và đấu tranh đòi thay đổi.
Và làn sóng dân chủ thứ tư đã tới. Một cách ngoạn mục cả khối Hồi giáo Trung Đông và Bắc Phi đã đột ngột chuyển động về dân chủ; bốn chế độ độc tài Tunisia, Ai Cập, Yemen và Libya đã sụp đổ, chế độ độc tài Syria đang sống những ngày cuối cùng, các chế độ khác đang cố gắng tự chuyển hóa. Sự thay đổi ngoạn mục này không được làm ta quên rằng làn sóng dân chủ mới này thực ra đã bắt đầu trước tại Đông Nam Á, nghĩa là ngay sát chúng ta. Các chế độ dân chủ hình thức tại Malaysia và Singapore đã trở thành những nền dân chủ thực sự. Chính quyền quân phiệt Thái Lan đã nhường chỗ cho một chính quyền xuất phát từ bầu cử tự do. Miến Điện cũng đã bắt đầu tiến trình dân chủ hóa. Áp lực dân chủ cũng đã tăng lên rất mạnh mẽ tại Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ. Làn sóng dân chủ này cũng tác động ngay tại chính các nước dân chủ phương Tây. Tại đây nó đòi hỏi xét lại và cải thiện dân chủ để dân chủ lành mạnh hơn và đáng mong ước hơn, để dân chủ không đi đôi với đầu cơ, chênh lệch giàu nghèo, nợ công và thâm thủng mậu dịch. Nó là một làn sóng dân chủ toàn cầu. Có mọi triển vọng nó sẽ là làn sóng dân chủ cuối cùng bởi vì các chế độ độc tài còn lại không nhiều, không mạnh và nhất là không còn nền tảng ý thức hệ nào. Chủ nghĩa Marx - Lenin đã bị lố bịch hóa và bị đào thải nhưng các chế độ độc tài còn lại không tìm ra được chủ nghĩa nào để thay thế.
Hoàng Tâm Nguyên

Không có nhận xét nào: