Hoàng Tâm Nguyên


I. Chính Trị
Một lập trường chính trị không thể vay mượn. Phải hiểu triết lý nền tảng của nó và thực sự chấp nhận nó trong trí tuệ và tâm hồn người ta mới có thể tránh được những mâu thuẫn, nhìn thấy mối quan hệ của nó với thực tại, nhất là nhìn ra cách khai dụng nó trong một kịch bản thắng lợi.[1]

Do di sản Khổng giáo chúng ta đã dịch chữ politics thành "chính trị" và hiểu nó như là sự tranh giành quyền lực thay vì là việc làm chung của nhiều người và coi hoạt động chính trị như là những cố gắng cá nhân để được làm quan thay vì là những đóng góp và hy sinh cho một cuộc đấu tranh tập thể vì một lý tưởng quảng đại.[2]
1/Tầm quan trọng của tư tưởng chính trị
Chung quanh chủ đề đấu tranh chính trị - và vận động quần chúng để giành thắng lợi - đã có rất nhiều thảo luận, nhiều đến nỗi người ta dễ quên những điều cơ bản nhất, những điều mà một người đấu tranh cho dân chủ không được quyền quên hay không biết nếu muốn thực sự hành động thay vì chỉ manh động. Đây là những đề tài đã được nghiên cứu và đã có kết luận. Trước hết là kết luận quan trọng nhất: nếu tranh thủ nhân tâm cho cố gắng đổi mới xã hội, để thay đổi một chế độ và một chính quyền không còn lý do tồn tại bằng một chế độ và một chính quyền khác là điều lúc nào cũng có thể làm và phải làm thì ngược lại động viên quần chúng đứng dậy đấu tranh chỉ là giai đoạn cuối cùng của một tiến trình tranh đấu kiên trì, vào lúc những mâu thuẫn giữa chính quyền và xã hội đã chín muồi và những điều kiện cho một cuộc cách mạng đã hội đủ.Những mâu thuẫn giữa chính quyền và xã hội tựu trung có ba loại :
-Có những mâu thuẫn tâm lý - do sự kiện đảng cầm quyền không do dân, vì dân mà là dụng cụ áp đặt của một thành phần ưu đãi và thành phần này có nếp sống, những quan tâm khác hẳn phần còn lại của dân tộc. Sự khác biệt trong lối sống và trong các quan tâm đó dần dần tạo ra thế tách biệt kình địch.
-Có những xung đột quyền lợi do sự kiện một thiểu số chiếm đoạt hết những điạ vị thuận lợi và bóc lột hoặc ngăn cản sự thăng tiến của đa số còn lại.
-Và cũng có những nguyên nhân thuộc về căn cước xã hội. Người ta đấu tranh vì căn cước bị xúc phạm, vì bị coi là thuộc loại công dân hạng thứ, bị từ chối những quyền tự do và những địa vị dành riêng cho một loại người.
Tất cả những nguyên nhân xung đột này chỉ đủ mạnh để làm nảy sinh ra ý chí đấu tranh nếu những người bị thua thiệt cảm thấy ràng buộc với nhau trong một thân phận chung. Các cá nhân riêng lẻ không bao giờ là một sức mạnh.
2/Bốn điều kiện ắt có và đủ cho một cuộc cách mạng
Khi mọi người thấy chế độ không thể chấp nhận được và muốn thay đổi, cũng chỉ mới là điều kiện đầu tiên trong bốn điều kiện ắt có và đủ cho một cuộc cách mạng, hiểu theo nghĩa một thay đổi chế độ.
Điều kiện thứ hai là đảng hay tập đoàn cầm quyền, vì mất lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân hóa và khả năng tự vệ đã yếu đi;
Điều kiện thứ ba là đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới; điều kiện thứ tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát vọng đổi mới. Điều kiện thứ ba, đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới, là điều kiện khó khăn nhất vì không thể có được bằng thiện chí, cố gắng và hy sinh, thậm chí ngay cả hiểu biết chuyên môn. Đây là một cố gắng trí tuệ trong đó các nhà tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng chính trị, có vai trò trung tâm và quyết định. Lịch sử cho thấy các dân tộc thiếu tư tưởng chính trị thường sa lầy rất lâu trong bế tắc. Linh mục Nguyễn Văn Lý có lẽ đã cảm nhận được như vậy khi ông nói phải có một chủ thuyết hoàn chỉnh. Ngày nay các chủ nghĩa đã lỗi thời, nhưng sự cần thiết của một tư tưởng chính trị - hiểu theo nghĩa một hệ thống các giá trị nền tảng được hiểu thấu đáo trong ý nghĩa của từng khái niệm và trong quan hệ của chúng với nhau trong hoàn cảnh quốc gia - vẫn còn nguyên vẹn. Những cuộc thảo luận lý thuyết gần đây về các khái niệm tự do, dân chủ, nhân quyền và phát triển cho thấy chúng ta vẫn còn cần nhiều tiến bộ. Những ngộ nhận nhiều khi bộc lộ ngay ở những trí thức hàng đầu.
Và vẫn còn điều kiện thứ tư, nghĩa là sự xuất hiện một tập hợp - một tổ chức hay một liên minh có lãnh đạo thống nhất của nhiều tổ chức - được nhìn nhận như là có vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh đổi đời.[3]
Lịch sử của các nước, các thời cũng đã chứng tỏ rằng mọi kết hợp đấu tranh cách mạng muốn thành công đều phải qua năm giai đoạn rõ rệt. Tiến trình năm giai đoạn này, trong đó xây dựng cơ sở tư tưởng chính trị là bắt buộc đầu tiên, một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của tư tưởng chính trị. Một tổ chức chính trị đúng nghĩa phải được quan niệm như một dụng cụ để thể hiện một tư tưởng chính trị và thực hiện một dự án chính trị.
Một nhận xét rất quan trọng là hai giai đoạn đầu, xây dựng một cơ sở tư tưởng và hình thành đội ngũ cán bộ nòng cốt, chiếm gần hết thời giờ và công lao của một cuộc cách mạng. Phải vài thập niên mới có nổi một cơ sở tư tưởng đúng đắn, lành mạnh, được quần chúng chia sẻ và một đội ngũ cán bộ chừng vài trăm người với vài chục người là những cán bộ thực sự nòng cốt, nắm vững cơ sở tư tưởng, có bản lãnh, có quyết tâm, có kỹ thuật và kỷ luật đấu tranh. Nhưng một khi hai yếu tố này đã có, tổ chức có thể dựa vào một vận hội lịch sử mà phát triển rất nhanh chóng và giành được thế chủ động trong vòng vài năm, thậm chí vài tháng.
Tiến trình này cũng cho thấy vận động quần chúng chỉ là cố gắng cuối cùng của giai đoạn cuối cùng của đấu tranh chính trị, dù là điều bắt buộc. Tuy vậy điều bắt buộc không nhất thiết phải là điều quan trọng nhất. Lấy thí dụ một sinh viên đi học và đi thi để lấy bằng tốt nghiệp. Thi là điều bắt buộc nhưng không phải là điều quan trọng nhất, điều quan trọng nhất là học. Nếu đã học kỹ thì thi chỉ là một thủ tục, còn nếu không học mà đi thi thì kết quả đã hiển nhiên từ trước.[4]
3/Khoa học chính trị
Từ nhiều thế hệ qua, có lẽ vì mất chủ quyền, và vì đã phải chịu đựng quá nhiều thất vọng và chứng kiến quá nhiều giả dối, một phong trào tẩy chay đất nước đã xuất hiện một cách áp đảo. Cha mẹ dạy con cái, bạn bè khuyên nhau đừng nên làm chính trị. Đạo đức cũng đảo ngược. Hoạt động chính trị là một hoạt động cao quí vì nghĩa vì đời lại bị coi là xấu xa, đáng khinh bỉ. Những người vị kỷ lo lấy thân mình đáng lẽ phải tự xấu hổ và ngưỡng mộ những người tranh đấu chính trị thì lại huênh hoang, hãnh diện. "Không làm chính trị" đối với nhiều người có nghĩa là trong sạch, là lương thiện, là đạo đức. Triết lý "cái gì cần đến rồi tự nhiên sẽ đến" là căn bệnh thần kinh rất đặc biệt của dân tộc ta mà chúng ta phải phấn đấu khó khăn lắm mới chữa được.[5]
Sự kiện ngày nay nhiều người có bằng thạc sĩ kinh doanh – hay nha sĩ hay cử nhân hóa học – tự cho mình là có thẩm quyền để nói về chính trị, thậm chí có thể làm bộ trưởng, là một sự tiếp nối tự nhiên của truyền thống bổ nhiệm những cử nhân, tiến sĩ ngày xưa làm quan chức. Do trực tiếp chịu đựng hậu quả của những "chính trị gia" như thế quần chúng Việt Nam phần nào cũng bị nhiễm độc. Trong một thời gian, đặc biệt là tại hải ngoải, đã không thiếu những người không có bất cứ một sự hiểu biết nào hay một kinh nghiệm nào về chính trị thình lình hứng chí nhảy ra thành lập tổ chức đấu tranh. Nếu có một điều cần được nghĩ lại thì đó là chính trị đòi hỏi một cố gắng học hỏi rất quan trọng. Không học thì không biết là điều đúng cho mọi trường hợp, nhưng càng đúng cho chính trị.[6]
4/Tư tưởng chính trị: nền tảng ổn định một quốc gia
Mọi quốc gia đều phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đúng đắn nếu không muốn rơi vào bạo quyền và bạo loạn. Quốc gia là một khái niệm chính trị phức tạp đã gây tranh cãi dữ dội, nhiều khi đẫm máu.
Tư tưởng, kể cả tư tưởng chính trị, là con đường dẫn tới sự hiểu biết thấu đáo thay vì những xác quyết chắc nịch của sự nông cạn dẫn thẳng tới xung đột. Nhưng muốn suy nghĩ thì trước hết phải hiểu rõ các từ ngữ và khái niệm. Trong một nước nếu mỗi người hiểu quốc gia, dân tộc, tự do, dân chủ, pháp luật, chính quyền v.v. một cách khác nhau thì không thể có thảo luận và do đó không thể sống chung. Phương pháp duy nhất để hiểu như nhau là cố gắng học hỏi để hiểu đúng, và các khái niệm này là phức tạp chứ không hề đơn giản.
Sau đó cần đầu tư thời gian và cố gắng tìm giải đáp cho một số câu hỏi. Thế nào là một quốc gia lành mạnh? Cứu cánh của nhà nước là gì? Nhà nước có vai trò gì? Nhà nước quan trọng hơn hay cá nhân quan trọng hơn? Quyền hạn của nhà nước phải dừng lại ở chỗ nào để tự do cá nhân có thể bắt đầu? Có thể kiểm soát hoạt động kinh tế tới mức độ nào mà không triệt tiêu những quyền tự do chính trị? Một đại biểu quốc hội có quyền bầu theo lập trường mà mình nghĩ là có lợi cho cử tri hay phải bầu cho điều mà mình nghĩ rằng đa số cử tri muốn? Những mầm mống chia rẽ trong dân tộc xuất hiện như thế nào và phải được giải quyết như thế nào? v.v. Những câu hỏi này nhiều lắm và khó lắm nhưng nếu không trả lời được thì không thể xây dựng được quốc gia. Không có tư tưởng chính trị thì không thể có cảm thông giữa chính quyền với nhân dân, và giữa nhân dân với nhau.
Một trong những khái niệm bị xét lại một cách gay gắt nhất trong thế giới toàn cầu hóa, chính là khái niệm quốc gia. Số lượng các đất nước không thành sẽ ngày một gia tăng. Sẽ chỉ còn lại những quốc gia được quan niệm một cách đúng đắn và được bảo vệ một cách thông minh. Không có gì là quá nếu nói rằng đất nước Việt Nam đang lâm nguy. Thiểu số ít ỏi những người hiểu biết và có lòng yêu nước, những trí thức đúng nghĩa, cần hiểu rằng họ không có chọn lựa nào khác hơn là tìm đến với nhau trong một ý chí chung.[7]
Các chế độ độc tài hiện nay khác hẳn trước, và giống hệt nhau. Sau khi chủ nghĩa Marx bị lố bịch hóa và chính khái niệm chủ nghĩa trở thành lỗi thời; chúng không còn một lý tưởng nào, thậm chí một ảo tưởng nào làm biện minh. Chúng đều chỉ có một mục đích là dùng bạo lực để kéo dài và bóc lột. Không còn những lãnh tụ hùng biện và lôi cuốn, chỉ còn những tay anh chị lì lợm. Tham nhũng trở thành luật chơi, quan hệ giữa chính quyền và nhân dân là quan hệ đàn áp và thù ghét. Trong suốt lịch sử thế giớichính quyền nào cũng phải đứng trên hai chân, thuyết phục và khuất phục, trong đó thuyết phục là chính, bạo lực chỉ dùng đến để khuất phục một thiểu số không thể thuyết phục. Các chế độ độc tài hiện nay như vậy chỉ có một chân, và một chân yếu. Chúng không thể đứng lâu, chưa nói đứng vững.
Hậu quả đầu tiên và quan trọng nhất, cho chính chế độ, của sự thiếu vắng tư tưởng chính trị là sự phân hóa và suy sụp của đảng cầm quyền. Bởi vì một chính đảng chỉ có lý do tồn tại và chỉ có thể tồn tại như là một dụng cụ để thể hiện một tư tưởng chính trị. Không có tư tưởng chính trị thì không thể có đảng, và một cách tự nhiên nhưng bắt buộc độc tài đảng trị sẽ biến dần thành độc tài cá nhân.[8]
5/ Lòng yêu nước và thỏa hiệp
Yêu nước một cách hời hợt, nghĩa là không yêu nước tới mức thấy cần phải dành cho nó một cố gắng liên tục, bền bỉ và thành thực. Ngay cả đối với phần lớn trong số rất ít người còn quan tâm tới đất nước, thỉnh thoảng một cuộc hội thảo hay một tuyên ngôn, một thư ngỏ cũng được coi là đủ. Họ không chuyển được lửa vì chính họ không có lửa. Hơn nữa họ cũng không có trọn vẹn lẽ phải và chính nghĩa sau khi làm quá nhiều thỏa hiệp không nên làm, không được làm và nhiều khi cũng không cần làm. Hậu quả là họ không thuyết phục được tuổi trẻ.[9]
Chỉ có quán triệt và thấm nhuần một tư tưởng chính trị, người làm chính trị mới có thể có khả năng bắt buộc của người hoạt động chính trị: khả năng để thỏa hiệp mà không chệch hướng. Những người không biết thỏa hiệp không thể làm chính trị. Những người thỏa hiệp để đánh mất mình thì không xứng đáng để làm chính trị. Một lý tưởng chính trị cần liên tục vượt lên chính mình để có thể tiếp tục là chính mình. Những người và tổ chức chỉ vay mượn một lập trường chính trị không thể theo kịp tiến trình vượt thoát liên tục này và sớm hay muộn cũng trở lại tình trạng bối rối.[10]
6/ Dân chủ và phát triển
Dân chủ không đưa tới hỗn loạn, trái lại nó đem lại luật chơi rõ ràng minh bạch, bảo đảm công lý và luật pháp. Dân chủ đem lại tinh thần trách nhiệm vì nó cho phép mọi người có chỗ đứng và tiếng nói trong việc nước. Tinh thần dân chủ đem lại trật tự trong đầu óc con người và trong xã hội.
Dân chủ chẳng có khả năng phát không cơm áo và hạnh phúc, dân chủ không bố thí. Tuy nhiên dân chủ tạo ra những con người tự do và trách nhiệm, làm chủ đời mình; phát huy được khả năng và sáng kiến cá nhân để xây dựng đời mình và đất nước mình. Dân chủ không phải là chiếc đũa thần giải quyết mọi vấn đề và đem lại phồn vinh. Không thay thế cho những chính sách và những con người; dân chủ là một phương thức sinh hoạt cho phép đặt vấn đề, tìm giải pháp và chọn lựa một cách đúng đắn những người trách nhiệm. Tự dân chủ không giải quyết một vấn đề nào cả, nhưng không có dân chủ thì không có vấn đề nào có thể giải quyết được một cách đứng đắn. Chính vì thế mà mức độ dân chủ quyết định giới hạn cho phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng. Đây cũng chính là khác biệt lớn nhất giữa các nước giầu mạnh đều là các nước dân chủ, trong khi các nước độc tài đều chậm tiến.[11]
Khi các chế độ độc tài đạt tới một mức độ tăng trưởng cao, như trường hợp Trung Quốc trong ba thập niên qua, thì phải hiểu rằng bù lại chúng đã tạo ra một sự thiệt hại hay mất quân bình nào đó cho xã hội, con người hoặc môi trường, và sẽ thất bại sau một thời gian tạo ảo tưởng thành công. Phát triển bao hàm tăng trưởng nhưng tăng trưởng không phải là phát triển. Liên hệ mật thiết giữa dân chủ và phát triển là điều đã được chứng minh bằng cả lý luận lẫn thực tế. Liên hệ càng hiển nhiên trong lúc này bởi vì chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của tri thức trong đó ý kiến và sáng kiến là những yếu tố quyết định mức độ phát triển, chỗ đứng và sự vinh nhục của mỗi dân tộc, những ý kiến và sáng kiến chỉ có thể nẩy nở ở nơi những con người tự do, trong những xã hội dân chủ. Nghiên cứu phát triển trong khuôn khổ một chế độ độc tài chỉ có thể là những nghiên cứu vụn vặt, khi không vớ vẩn.[12]
Chúng ta phải có dân chủ nếu muốn có một tương lai. Không có giải pháp thay thế. Dân chủ có thể không phải là điều kiện đủ, nó không thay thế được cho những chính sách đúng và những người trách nhiệm đúng, nhưng nó là điều kiện cần, nghĩa là phải có.[13]
Chính trị chỉ có ý nghĩa nếu lấy con người, tự do và phẩm giá con người làm cứu cánh. Chính trị không đơn giản là vận động tranh cử, là diễn thuyết như thế nào trước đám đông, là xuất hiện như thế nào trên màn ảnh. Các chính khách thực thụ thường mất nhiều thời giờ cho triết lý chính trị và những ưu tư dài hạn.[14]
7/ Lập trường hội nhập và hợp tác để thay đổi
Khi bàn về một khái niệm trừu tượng có lẽ nên dựa vào những hiện tượng cụ thể để có thể diễn đạt quan điểm dễ dàng hơn. Nhờ đó, những thông điệp có thể chuyển đến người đọc một cách khúc chiết hơn. Ở đây, hiện tượng IDS là một cơ hội có thể vận dụng cho đề tài lập trường hội nhập và hợp tác.
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (Institute of Development Studies), tiêu biểu cho khuynh hướng vận động thay đổi từ trong lòng chế độ bằng cách chấp nhận và hợp tác, mà sau đây ta gọi tắt là "khuynh hướng IDS" dù IDS chỉ là một nhóm trong khối người rất đông đảo này. Đây là một khuynh hướng rất mạnh, mạnh hơn nhiều so với khuynh hướng vận động dân chủ bằng cách đối đầu trực diện. Có rất nhiều người trước đây chống cộng kịch liệt và từng lên án những người chủ trương hoà giải dân tộc và bất bạo động là nhu nhược, là đồng lõa với cộng sản, bây giờ cũng theo khuynh hướng IDS. Theo họ đối đầu trực diện là vô ích, có khi còn có hại vì chỉ khiến đảng cộng sản cứng rắn thêm, họ nói: "phương pháp hay nhất là hợp tác, vào ngay trong lòng chế độ, thức tỉnh từng người, thuyết phục một cách thân thiện, lọt tai để được nghe". Phải nói một cách rất thẳng thắn rằng sức thu hút của khuynh hướng IDS là ở chỗ nó là một chọn lựa tiện nghi và an toàn chứ không phải vì nó đúng. Những người theo khuynh hướng này không muốn thảo luận vì họ không có lập luận chính xác nào.
Trước hết, tuy chủ trương phải hội nhập vào chế độ và hợp tác với nó để thay đổi nó từ bên trong nhưng họ lại không nói là thay đổi để tiến tới cái gì. Nếu họ nói là thay đổi để tiến tới dân chủ đa nguyên đa đảng thì họ sẽ bị coi là đối lập và sẽ bị loại trừ ngay. Ngược lại họ cũng không thể công khai bênh chính quyền cộng sản vì nó bạo ngược. Họ làm như không có ý kiến. Nhưng không có ý kiến trên vấn đề dân chủ hoá đất nước là tự triệt thoái khỏi cuộc tranh luận nòng cốt nhất hiện nay. Muốn thuyết phục được ai thì ít nhất cũng phải cho người đó biết mình muốn gì. Cái nhập nhằng của khuynh hướng này là ở chỗ nó bắt cá hai tay, đối với những người dân chủ nó muốn được coi như một khuynh hướng dân chủ hóa trong khi đối với chính quyền cộng sản nó muốn được nhìn như một khuynh hướng ủng hộ và hợp tác.
Phải nói một cách thẳng thắn, lập trường hội nhập và hợp tác để thay đổi từ bên trong tự nó là một sai lầm. Tiến trình chuyển hóa hoàn toàn không diễn ra như thế. Hợp tác với một chế độ trước hết là đóng góp củng cố chế độ thay vì làm thay đổi chế độ. Những người muốn dân chủ hóa chế độ chỉ là một thiểu số nhỏ trong giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản và hầu như vắng mặt trong các cơ quan quyền lực cao nhất, tiếng nói của họ lại càng yếu, yếu đến độ họ không dám lên tiếng. Ngôn ngữ và nếp sinh hoạt trong bộ máy đảng và nhà nước cộng sản là ngôn ngữ và nếp sinh hoạt độc tài chuyên chính. Như vậy, cứ giả sử là những người thuộc khuynh hướng IDS thực sự muốn đất nước chuyển hóa về dân chủ, một điều không có gì bảo đảm, thì họ tranh thủ được ai khi hội nhập và hợp tác với chế độ? Tranh thủ những người lãnh đạo thì chắc chắn là họ không dám, còn rỉ tai những đảng viên cấp dưới thì chỉ là vô ích vì đa số đã chấp nhận dân chủ rồi nhưng bị khống chế. Cuối cùng chính họ, chứ không phải chế độ, bị biến chất. Quan sát cá nhân có thể thấy rất rõ rệt: tất cả những người đã một thời đấu tranh cho dân chủ rồi chọn khuynh hướng này sau một thời gian đều mất hết ý chí đấu tranh, không có ngoại lệ nào.
IDS đã sai lầm về nguyên tắc khi hy vọng được phép phản biện. Hoặc phản biện hoặc không, nhưng nếu đã phản biện thì không cần chờ đợi và được cho phép. Phản biện thể hiện quyền tự do suy nghĩ và phát biểu, mà quyền là điều mình có và phải hành xử, và tự do là điều mà người ta phải giành lấy chứ không thể xin. Hegel, sư phụ của Marx, mô tả cuộc chiến đấu giành tự do như là cuộc chiến đấu sống còn trong đó những kẻ không dám liều chết để giành tự do đương nhiên xứng đáng với thân phận nô lệ.
Ngày nay loài người đã văn minh hơn so với thế kỷ 19 của Hegel và Marx, có lẽ người ta không còn phải đánh đổi mạng sống để có tự do nhưng chắc chắn là vẫn phải chấp nhận để trả một giá nào đó. Tự do là điều quý báu nhất vì nó định nghĩa con người, vì thế người ta phải giành lấy để được là con người đúng nghĩa chứ không thể chờ đợi để được ban phát. Cũng đừng nên quên rằng đặc tính của các chế độ bạo ngược là chúng… bạo ngược. Chúng không chấp nhận sự phản đối từ những cái đầu đã cúi xuống. Đã chấp nhận quan hệ xin-cho thì cũng phải chấp nhận cái hệ luận cay đắng của nó là khi mình xin thì người ta có thể không cho. Thái độ đứng đắn duy nhất trước những kẻ cướp đoạt tự do của mình là dứt khoát phản kháng; phản kháng được hay không là một chuyện khác nhưng vẫn phải phản kháng. Điều quan trọng là thái độ.
IDS cũng đã sai lầm về mặt tri thức. Họ muốn nghiên cứu về phát triển trong khuôn khổ một chế độ độc tài đảng trị. Họ muốn "làm đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng về trí thức". Cần nhấn mạnh từ “phát triển”. Phát triển không phải chỉ là tăng trưởng. Khoảng cách giữa hai khái niệm là phẩm chất. Nhưng phát triển cái gì? Phát triển một quốc gia – nghĩa là một cộng đồng của những con người- hay phát triển một trại chăn nuôi? Chắc chắn là anh em IDS muốn phát triển đất nước Việt Nam. Nhưng phát triển là một hiện tượng đã được nghiên cứu và tranh cãi trong suốt một thế kỷ qua và đã có kết luận dứt khoát dựa trên cả lý luận lẫn kinh nghiệm của các dân tộc. Kết luận đó là phát triển phải đi đôi với tự do và dân chủ. Muốn "nghiên cứu phát triển" trong khuôn khổ một chế độ toàn trị là biểu lộ một sự thiếu hiểu biết bi đát về một bài toán quan trọng đã được giải đáp. Chẳng khác gì muốn phát minh lại bánh xe.
Sự hiện diện của khuynh hướng này đã có tác dụng khiến những người dân chủ đối đầu trực diện với chế độ một cách ôn hòa bị nhìn một cách oan sai như là cực đoan hoặc không thực tiễn và do đó ít được hưởng ứng. Nhưng sự ôn hoà không bao giờ bắt buộc phải hy sinh những giá trị nền tảng. Bao dung không có nghĩa là phải cúi đầu chấp nhận cả những điều bạo ngược và vô lý. Chúng ta có thể không thù ghét gì những người lãnh đạo cộng sản, không mong họ bị cảm cúm, con cái họ lêu lổng; chúng ta cũng muốn họ có hạnh phúc và coi họ là đồng bào, là anh em nhưng không phải vì thế mà chúng ta phải chấp nhận để họ ứng xử như một lực lượng chiếm đóng, tự cho là đương nhiên có vai trò thống trị và coi phần còn lại của dân tộc như những kẻ nô lệ chỉ được phép phục tùng vô điều kiện. Khi luật chơi vô lý thì thái độ thực tiễn nhất là bác bỏ luật chơi chứ không phải là chơi theo luật vô lý (play by the rule). Bác bỏ được hay không là một chuyện khác nhưng ít nhất như thế chúng ta cũng đã khẳng định vị thế con người, và phẩm giá của chúng ta. Có những điều không thể nhân nhượng. Sự giải thể của IDS ít nhất cũng đóng góp đem lại sự minh bạch cho cuộc vận động dân chủ.[15]
8/ Bài học từ cuộc cách mạng Ả Rập
Lịch sử đã chứng tỏ không có cuộc cách mạng nào lập tức mở ra một kỷ nguyên tươi sáng, như ý tưởng "mùa xuân" có thể khiến ta mường tượng. Trái lại mọi cuộc cách mạng đều trải qua một giai đoạn rối loạn và suy thoái, thậm chí những thảm kịch, trước khi đem lại những phúc lợi chờ đợi. Giai đoạn chuyển tiếp có thể rất dài và những thiệt hại rất lớn nếu một giải pháp thay thế không xuất hiện nhanh chóng.Giải pháp thay thế bao gồm một lực lượng chính trị và một dự án chính trị.
Nếu có một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ cuộc cách mạng Ả Rập, sau cuộc cách mạng Đông Âu năm 1989, thì đó là trước khi bắt đầu một cuộc cách mạng dân chủ phải có sẵn một tổ chức dân chủ và một dự án xây dựng dân chủ.[16]
9/ Tiến trình đào thải các chế độ độc tài
Đầu tiên là đảng cầm quyền bị phân hóa và mất dần thực chất để chỉ còn là một hư cấu, độc tài đảng trị dần dần nhường chỗ cho độc tài cá nhân. Kế tiếp là sự băng đảng hóa chính quyền, rồi sự phân hóa giàu nghèo tích lũy với các quyền lợi ngày càng tập trung vào một nhóm người. Sau cùng là xung đột không tránh khỏi giữa quân đội và công an. Theo một logic tự nhiên của các chế độ độc tài cá nhân, những tướng lãnh mờ nhạt được cắt đặt đứng đầu quân đội. Họ được chọn lựa vì không có khả năng và do đó không đe dọa lãnh tụ; nhưng cũng chính vì không có khả năng mà họ không kiểm soát được quân đội. Cuối cùng chế độ sụp đổ vì dân chúng phẫn nộ nổi dậy và quân đội không những không đàn áp mà còn không cho công an đàn áp. Đó là tiến trình bắt buộc. Tiến trình này còn được tăng cường và gia tốc bởi trào lưu toàn cầu hóa và sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng khiến quần chúng vừa nhận diện được bản chất vô lý và thô bạo của chính quyền vừa có khả năng trao đổi và động viên nhau chống lại sự áp bức.[17]
Hoàng Tâm Nguyên
Những ghi chú từ 1 đến 17 đều trích từ những bài viết của Ông Nguyễn Gia Kiểng đã đưa ra công luận từ thập niên 80 và đặc biệt là từ cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” xuất bản tại Paris 2004. Vì giới hạn của tờ báo, chúng tôi xin phép miễn ghi chi tiết.


Không có nhận xét nào: