Diệp Tường Bảo


Đệ nhứt cường quốc đóng cửa, một nước Hoa Kỳ SD ?
Đôi khi thời sự cho ta những bài học chánh trị không thể tìm thấy ở bất cứ sách vỡ hay khóa chánh trị học nào cả. Cách nhau chỉ có một tuần, người ta thấy một nền dân chủ đại nghị tiêu biểu. Đức, bầu cử một vị thủ tướng với những màu sắc tổng thống và đồng thời một chế độ tổng thống điển hình lâm vào một cuộc khủng hoảng cai trị mà người ta tưởng chỉ có thể có ở những thế chể đại nghị.
Ngày 1 tháng 10 năm 2013, chánh phủ liên bang Hoa Kỳ đành phải đình chỉ tất cả những dịch vụ công cộng bị coi là không cần thiết với những hậu quả khác nhau : 85% nhân viên của Bộ Thương mại, 69% nhân viên bộ Năng lượng, 50% nhân viên Bộ Y tế bị treo việc song một cách dễ hiểu, v.v. song, "tới" 50% nhân viên Bộ Tư pháp, 78% nhân viên Bộ Quốc phòng, 86% nhân viên Bộ An ninh tiếp tục đi làm. Những người bị cho nghỉ việc cũng như những người đi làm sẽ không lãnh lương như kỳ trước mà nhà nước liên bang đã phải đóng cửa năm 1996, tất cả công chức đã được hoàn trả tổng số lương bỗng sau khi nhà nước chạy lại. Biện pháp này đã trở nên không thể tránh khỏi khi Nghị viện Dân biểu Hoa Kỳ (House of Representatives) từ chối cung cấp ngân sách hoạt động cho hành pháp cho năm tài chánh liên bang 2014. (Tin mới nhất: Những nhân viên này sẽ được lãnh lương ‘hồi tố” như kỳ 1996. BNS tổ quốc)
Người ta thường nói rằng Hoa Kỳ là chế độ tổng thống thành công duy nhứt trên thế giới. Nguyên do thường được đưa ra là Hoa Kỳ là một nhà nước liên bang mà bản chất tản quyền "được ghi trong di tố", do đó cho dù có phải có một tổng thống tồi dở đi nữa, tác hại cũng rất giới hạn. Phép vua thiệt ra đã không bao giờ thua lệ làng ở Việt Nam nhưng ở Mỹ thì quả thực, quyền lực liên bang hiếm hoi và định rõ (few and defined) trong khi quyền lực tiểu bang thì vô số và bất hạn định (numerous and unfinite). 80% công chức Hoa Kỳ làm việc ở mức tiểu bang trong khi nhà nước trung ương chỉ điều chỉnh 55% ngân sách cộng cộng mà trong đó phải tính những nhiệm vụ thuộc độc quyền quốc gia như quốc phòng và ngoại giao.
Điều mà người ta thường quên nhắc đến là nhà nước liên bang Hoa Kỳ cũng đã chạy được nhờ tinh thần thỏa hiệp mà các nhà chánh trị Hoa Kỳ thấm nhuần từ trước đến nay. Những vị nghị sĩ Hoa Kỳ có thói quen biểu quyết theo những gì họ nghĩ là phù hợp quyền lợi quốc gia hơn là theo đường lối của đảng mình. Không hiếm những trường hợp mà lập pháp Hoa Kỳ thông qua đạo luật với sự ủng hộ của đối phương trong khi chống đối đến từ chính bên mình.
Hai cột trụ của hệ thống liên bang Hoa Kỳ đã được xây dựng trên hai thỏa hiệp giữa các liên bang. Thỏa hiệp Connecticut còn được gọi "Đại Thỏa hiệp" (The Great Compromise) thành lập chế độ lưỡng viện của Hoa Kỳ với một Thượng Nghị viện trong đó các tiểu bang sẽ được đại diện một cách ngang nhau và một Hạ Nghị viện trong đó dân biểu của mỗi tiểu bang tuỳ thuộc dân số của từng tiểu bang. Mô thức tính toán dân số do một thỏa hiệp khác xác định, "Thỏa hiệp Ba Phần Năm" (Three-fifths Compromise) theo đó, 3/5 số người nô lệ được cộng vào số dân da trắng để tính số dân biểu của mỗi bang (lẽ dĩ nhiên, đièu không có nghĩa là người da đen có 3/5 lá phiếu !). Một cách đầy ý nghĩa, cũng nhờ thỏa hiệp mà gần hai trăm năm sau, các Đạo luật về Quyền Công dân (Civil Rights Act) hoàn tất nền dân chủ Mỹ – ít nhứt trên giấy tờ – bằng cách thừa nhận sự ngang hàng giữa những công dân Hoa Kỳ. Đạo luật về Quyền Công dân 1957, chẳng hạn, đã được Quốc hội thông qua với 167 phiếu cộng hòa (trên 186) và 118 phiếu dân chủ (trên 225) ở Hạ Nghị viện và 43 phiếu cộng hòa (trên 43) và 29 phiếu dân chủ (trên 47) ở Thượng Nghị viện (lịch sử Hoa Kỳ đi nhanh đến nỗi người ta thường quên rằng trong dòng lịch sử Hoa Kỳ, Đảng Cộng hòa đã thường ủng hộ sự giải phóng của người da đen nhiều hơn là Đảng Dân chủ). Bên cạnh những đạo luật tiểu biểu đó, còn có vô số đạo luật khác được đề cương, tu chỉnh và thông qua trên tinh thần lưỡng đảng, chẳng hạn Đạo luật McCain-Feingold (1964) điều chỉnh phương thức tài trợ những cuộc tranh cử.
Thế nhưng tại sao kỳ này, chánh phủ của tổng thống Obama đã không tìm được thỏa hiệp với phe đa số cộng hòa ở Hạ Nghị viện mà để cho nhà nước liên bang phải đóng cửa (shutdown) như thế ? Ai nấy cũng biết những lý do mà hai bên đã đưa ra để biện minh cho sự cứng rắn của mình. Đảng Cộng hòa chủ trương rằng chánh phủ Obama không thể vừa muốn tăng thuế nhằm giảm bớt thiếu hụt ngân sách nhà nước, vừa thi hành chương trình Bảo vệ Bịnh nhân và Y tế Phải chăng (thường được gọi nôm na là Obamacare) tốn kém vừa được thông qua. Điều kiện mà họ đặt để thông qua ngân sách liên bang là thay đổi hay trì hoãn chương trình này, một điều mà tổng thống Obama không thể
Đảng Trà có tiếng nói mạnh mẽ trong lòng chính quyền Hoa Kỳ
chấp nhận được vì đó là công trình nổi bật tiêu biểu – những kẻ xấu miệng nói là duy nhứt – của ông. Chấp nhận thương thuyết trên chương trình Obamacare sẽ biến vị tổng thống Phi-Mỹ đầu tiên trong lịch sử thành một con "vịt què" (lame duck) mất hết uy quyền một năm trước cuộc bầu cử lập pháp "nửa nhiệm kỳ" 2014 và biến nhiệm kỳ thứ hai của ông thành một hành trình gian truân. Từ khi ông được tái đắc cử năm ngoái, Barack Obama đi từ thất bại này đến thất bại khác. Ông đã phải từ bỏ những ý định kiểm soát khí giới, cải cách hệ thống nhập cư và điều chỉnh chương trình nghe ngóng của Cơ quan An ninh Quốc gia (National Security Agency). Về cuộc nội chiến ở Xi-ri, ông đã tỏ ra do dự và vụng về trước tài mưu lược của nhà độc tài al-Assad và sự khéo léo ngoại giao của tổng thống Putin. Vì vậy mà người cầm đầu phe dân chủ đa số ở Thượng Nghị viện, Harry Reid đã tuyên bố muốn có "một cuộc thương thuyết sạch sẽ", tức tách rời khỏi đạo luật bảo hiểm y tế. Vấn đề có vẻ như không có giải đáp.
So với các đạo luật về dân quyền (tổng cộng 11 đạo luật, luật đầu tiên được thông qua vào 1966, cái chót vào năm 1991) và nhìn một cách khách quan, người ta khó thể nào mà cho rằng là chương trình Obamacare có cái gì đó khủng khiếp cả. Lịch sử gần đây cũng như tất cả các thăm do dư luận đều cho thấy rằng Đảng Cộng hòa sẽ trả một giá rất mắc cho thái độ "đến cùng" của họ. Kỳ truớc mà nhà nước liên bang bị đóng cửa vì ngân sách liên bang bị đối lập phong tỏa vào năm 1996, hai năm sau, tổng thống dân chủ William Clinton đánh bại ứng cử viên cộng hòa Robert Dole sát ván. Chủ tịch Hạ Viện John Boehner đứng trước một lựa chọn hết sức khó xử. Trên nguyên tắc, ông có thẩm quyền để bắt các hạ nghị sĩ biểu quyết về một ngân sách tạm thời mà không nhắc đến đạo luật y tế nhưng chắc chắn rằng biện pháp này sẽ làm cho ông mất chức vì không mất đi hậu thuẫn của những dân biểu cộng hòa thuộc phái Tea Party. Nhưng không làm điều đó mà để cho dân chúng Hoa Kỳ tiếp tục giãy giụa trong sự bế tắc của nhà nước liên bang không khác nào chấp nhận là phe cộng hòa phải chịu thua trước một số cuộc bầu cử liên bang, trong đó bầu cử tổng thống sắp tới.
Muốn tìm ra lý do giải thích vì sao Đảng Cộng hòa đành chịu tự tử để chạy theo phong trào Tea Party, người ta phải xem xét một yếu tố chánh trị ít khi được nhắc đến, đó là cách thức chia cắt những khu bầu cử.
Các thành viên của Viện Dân biểu được bầu cho hai năm bằng phổ thông đầu phiếu trực tiếp theo thể thức đa số một vòng. Ưu điểm của thể thức bầu cử này là ngăn chặn một cách hữu hiệu nạn lạm phát đảng vì có được một thiểu số phiếu nhỏ hay lớn không có lợi ít gì cả. Khuyết điểm của nó là cho phép người ta có thể vạch những khu bầu cử thuần nhứt một cách tương đối dễ dàng. Để bảo đảm "tuổi thọ" của những đại biểu của mình, các đảng dân chủ và cộng hòa mặc cả để dần dần tạo nên những khu bầu cử mà ứng cử viên đương nhiệm có hơn 90% khả năng tái đắc cử. Điều đó khiến cho các ứng cử viên không cần thuyết phục cử tri đối phương nữa mà ngược lại, phải làm đủ mọi cách để được cử tri của mình đề cử qua những cuộc tuyển cử sơ bộ (primary election). Muốn thế, các ứng cử viên phải làm đủ mọi cách để tranh thủ cơ sở mình, thường là những thành phần giáo điều nhứt. Trong trường họp mà các thành phần này được tổ chức thành một phong trào có nhiều áp lực như Đảng Trà thì các ứng cử viên hữu khuynh không có phương cách nào khác hơn là ủng hộ những gì bọn Tea Party chủ trương nếu muốn có khả năng đắc cử. Ngay cả một nhà chánh trị lão thành nổi tiếng vì tánh độc lập như thượng nghị sĩ John MacCain – ông có biệt hiệu "maverick", "con bê hoang" – cũng phải kết hợp với một nhà chánh trị tồi dở như cựu thống đốc Sarah Palin để tranh thủ sự ủng hộ hay ít nhứt thái độ trung lập của Đảng Trà trong cuộc tranh cử tổng thống 2008. Cánh tả của Mỹ cũng bị những phong trào cực đoan tương tự ảnh hưởng tuy là ở một mức độ thấp hơn. Những sức ép cực đoan này đã làm cho Quốc hội Mỹ nói chung và Hạ Nghi viện nói riêng ngày càng thiếu những đại biểu ôn hòa có ý chí và khả năng hợp tác với đối phương vì quyền lợi của đất nước.
Bế tắc ngân sách liên bang này chỉ có một tác động tương đối nếu được giải quyết một cách nhanh chóng. Các nhà kinh tế ước lượng là nó làm cho nhà nước liên bang mất khoảng 300 triệu Mỹ kim một ngày, tức 0,02% tổng sản lượng nội địa hàng ngày của Hoa Kỳ. Các thị trường tài chánh đã tiếp nhận tin tức này một cách bình tĩnh vì phần lớn họ nghĩ rằng giới chủ nhân sẽ làm áp lực trên các đại biểu cộng hòa để họ bỏ cuộc tranh đấu vô bổ này và sẽ thành công vì các công ty Mỹ là một nguồn tài trợ thiết yếu cho Đảng Cộng hòa. Có một lý do khác cho phép các nhà quan sát tương đối lạc quan, đó là Đảng Cộng hòa khá chia rẽ về việc bắt chẹt ngân sách trung ương, chẳng  những giữa những cánh ôn hòa và phe cực đoan mà cả giữa những đại biểu quốc gia và những thống đốc tiểu bang mà chương trình Obamacare đem lại một nguồn huê lợi đáng kể. Thiệt ra, nỗi lo lớn nhứt nằm ở ảnh hưởng của sự bế tắc hiện tại trên thái độ của các đại biểu khi đến lúc phải biểu quyết về việc nâng mức trần nợ công của Mỹ. Viện Kinh doanh Mỹ (American Enterprise Institute) ước lượng là 40% xác suất mà Hoa Kỳ bị đặt vào tình trạng không trả nợ được vì "lý do kỹ thuật" nhưng thú nhận rằng con số này "không dựa vào một cơ sở nào cả ngoài niềm tin mù quáng của chúng tôi". Họ cũng quên nhắc rằng bình thường xác xuất này đáng lẽ là…0%. "Lý do kỹ thuật" hay không, đã có một số cơ quan đánh giá tín dụng như Standard & Poor’s cảnh cáo rằng họ sẽ không ngần ngại kéo Hoa Kỳ xuống hạng "SD" nếu điều đó xảy ra. "SD", tức "selective default" chỉ những quốc gia vỡ nợ bắt buộc phải chọn lựa những chủ nợ mà họ sẽ trả. Ngay cả một nước với tình trạng tài chánh bi thảm như Hy Lạp cũng đã bị xếp hạng SD một cách tạm thời mà thôi. Toàn thể hệ thống tài chánh quốc tế dựa trên giả thuyết đơn giản là Hoa Kỳ luôn có khả năng trả nợ của mình. Công phiếu Hoa Kỳ là sản phẩm tài chánh được tất cả các định tài chánh yêu chuộng kể cả những ngân hàng trung ương. Việc chúng có thể bị coi như những khoản nợ thúi sẽ là một cuộc động đất khủng khiếp mà mức trầm trọng sẽ hơn hẳn cuộc Đại Khủng hoảng năm 1930.
Muốn tránh được thảm họa này một cách lâu dài, Hoa Ky cần phải cải tổ phương thức chia cắt các vùng cử tri. Đây đó đã có những tiểu bang như California thử giao cho những ủy ban độc lập nhiệm vụ chia cắt những khu bầu cử. Vấn đề là người ta phải chờ đến năm 2022 để nước Mỹ xét lại những vùng cử tri vì chúng đi đôi với những cuộc điều tra số dân được thi hành 10 năm một lần, lấn cuối đã xảy ra năm ngoái. Từ đây tới đó, chúng ta có thể đánh cá mà không sợ thua rằng thế giới sẽ còn có nhiều cơ hội để nín thở và toát mồ hôi.
 Diệp Tường Bảo

Không có nhận xét nào: