Nguyễn Văn Huy

Thấy gì qua chuyến đi Mỹ của Thượng Tướng Đỗ Bá Tỵ?
Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ được tiếp đón theo lễ nghi quân cách tại Lầu Năm Góc Bộ Quốc phòng Hoa kỳ  ngày 17/6/2013
“Trước quá nhiều đối tác chiến lược này, không ai biết Việt Nam muốn gì. Tham vọng lợi dụng được nhiều đối tác chiến lược khác biệt nhau là một chiến lược nguy hiểm, không ai muốn can thiệp khi Việt Nam bị lâm nguy vì sợ làm phật lòng những đối tác chiến lược khác.”

Đáp lời mời của đại tướng Martin E. Dempsey, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ thuộc Bộ quốc phòng Mỹ, ngày 17/06/2013, một phái đoàn quân sự cao cấp của quân đội nhân dân Việt Nam do thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, thứ trưởng bộ quốc phòng kiêm tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, dẫn đầu tới thăm chính thức Hoa Kỳ trong 6 ngày, từ 17 đến 22/06/2013.
Theo ông Tỵ, chuyến đi này "là dịp để tăng cường quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội hai nước, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng lên một bước mới, phù hợp với mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt, đang ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Hoa Kỳ".
Phái đoàn quân sự Việt Nam gồm có các tướng lĩnh cao cấp trong quân ủy trung ương như như trung tướng Phương Minh Hòa, tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, trung tướng Phạm Ngọc Hùng, phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng, chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, thiếu tướng Phạm Hữu Mạnh, chánh văn phòng Bộ Tổng Tham mưu và thiếu tướng Vũ Chiến Thắng, cục trưởng Cục Đối ngoại.
Nội dung chuyến đi
Đây là lần đầu tiên một phái đoàn cao cấp của quân đội nhân dân Việt Nam chính thức đến thăm Hoa Kỳ, đặc biệt là đến Bộ quốc phòng Hoa Kỳ để cùng hội thảo. Trong chương trình viếng thăm, ông Đỗ Bá Tỵ cùng đoàn đại biểu quân sự cấp cao đã đến thăm Đại học Quốc phòng, Bộ tư lệnh Hạm đội 3, Cảnh sát biển thành phố San Diego, Đơn vị tìm kiếm cứu nạn, Bộ tư lệnh Quân đoàn 1, Căn cứ liên quân Lewis-McChord. Tại các đơn vị đến thăm, những chỉ huy đơn vị đã giới thiệu về chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của đơn vị.
Sáng ngày 20/6, tại trụ sở Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, còn gọi là Pentagone (Lầu năm góc), một nghi lễ tiếp đón theo nghi thức quân sự cấp cao đã được tổ chức dành riêng cho đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam. Điều này cho thấy Hoa Kỳ đánh giá cao chuyến viếng thăm của phái đoàn quân sự Việt Nam. Ngay sau lễ đón, ông Đỗ Bá Tỵ đã có cuộc hội đàm với ông Martin Dempsey, đại tướng chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ.
Sau những chào hỏi và cảm ơn xã giao giao, hai bên đã trao đổi về một số tình hình thế giới và khu vực cùng quan tâm. Ông Đỗ Bá Tỵ nói Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ toàn diện với Hoa Kỳ, trong đó có quan hệ về quốc phòng. Theo đó, hai bên tiếp tục triển khai quan hệ quốc phòng theo bản Thỏa thuận thúc đẩy hợp tác quốc phòng đã ký kết, bao gồm trao đổi đoàn các cấp, trao đổi đào tạo, trao đổi kinh nghiệm giữa các quân binh chủng. Ông Đỗ Bá Tỵ cũng không quên đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh (rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn lại sau chiến tranh, tìm kiếm các quân nhân còn mất tin, mất tích trong chiến tranh và tẩy rửa chất độc dioxine tại các điểm ô nhiễm nặng và hứa sẽ tạo điều kiện tốt nhất và hợp tác với Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt quân nhân Hoa Kỳ đã tử trận trong chiến tranh tại Việt Nam. Nhưng đề nghị quan trong nhất của ông Tỵ là trong thời gian tới, hai bên cần phối hợp thật tốt trên các diễn đàn đa phương để cùng nhau góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, trước hết trong cơ chế hợp tác giữa các nước ASEAN và các nước đối tác (trong đó có Trung Quốc). Việt Nam sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác ASEAN-Hoa Kỳ vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Đáp lời, ông Martin Dempsey đồng ý với những nội dung hợp tác thời gian tới trong khuôn khổ Thỏa thuận thúc đẩy hợp tác quốc phòng và hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam về thành lập Nhóm chuyên gia về mìn nhân đạo trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ASEAN Defence Ministers Meeting Plus-ADMM+). Ông Dempsey cho biết Hoa Kỳ ủng hộ các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình và đề nghị các bên tranh chấp tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, đồng thời cũng mong muốn ASEAN và Trung Quốc sớm xây dựng được Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (Code of Conduct-COC).
Chiều cùng ngày 20/6, phái đoàn của thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã có buổi tiếp kiến với ông John Mc Cain, thượng nghị sỹ bang Arizona, tại trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ trên đồi Capitol. Ông John McCain là người đã từng tham chiến ở Việt Nam và bị bắt làm tù binh và bị giam tại Hỏa Lò Hà Nội. Trong cuộc hội thảo, ông McCain khẳng định sẽ tiếp tục ủng hộ cho quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới.
Trước đó, ngày 18/6, phái đoàn quân sự do ông Đỗ Bá Tỵ dẫn đầu đã tới thăm Căn cứ liên quân Lewis-McChord, bang Washington và được trung tướng Robert Brown, chỉ huy trưởng Quân đoàn I, tiếp đón. Ông Brown cho biết: "Chính sách chuyển hướng của quân đội Hoa Kỳ sẽ là tăng cường lực lượng ở Đông Nam Á để hợp tác với các đối tác tuyệt vời như quý vị" và sau đó cho phái đoàn Việt Nam xem một bản đồ có gắn bảy ngôi sao, đó là nơi diễn ra các cuộc tập trận chung lớn với quân đội Mỹ : Trung tâm Huấn luyện Yakima ở bang Washington, Australia, Thái Lan, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines và Hawaii. Ông Brown nói: "Nếu thêm được một ngôi sao nữa ở Việt Nam thì thật là tuyệt vời".
Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố không liên minh quân sự với nước nào và chưa có ý định tham gia tập trận chung. Tuy trước mắt Việt-Mỹ chưa có kế hoạch tập trận chung, nhưng hai bên hứa có thể cùng tham gia huấn luyện gìn giữ hòa bình và quân y.
Theo dự trù, ngày 26/6, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, một thứ trưởng quốc phòng khác của Việt Nam, cũng sẽ đến thăm Hoa Kỳ. Mục đích chuyến thăm này là để bàn về lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Việt Nam đã quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, trong lĩnh vực công binh, quân y và quan sát viên quân sự.
Sau chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, phái đoàn do ông Đỗ Bá Tỵ dẫn đầu sẽ đến thăm Pháp từ ngày 23 đến 26/6, theo lời mời của đô đốc Edouard Guillaud, tham mưu trưởng Liên quân Cộng hòa Pháp.
Không ai
biết Việt Nam muốn gì
Trong lúc phái đoàn quân sự cao cấp của thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đến thăm Lầu Năm Góc từ ngày 17 đến 22/6, phái đoàn của ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đến thăm Trung Quốc từ 19 đến 21/6. Các hoạt động ngoại giao và quốc phòng dồn dập trong tháng 06/2013 cho thấy Việt Nam tiếp tục chính sách “đa phương hóa, đa dạng hóa” với các đối tác chiến lược.
Ngày 31/5, phát biểu trước diễn đàn an ninh Singapore Đối Thoại Shangri-La, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không ngừng nhấn mạnh "xây dựng niềm tin chiến lược vì hòa bình, thịnh vượng của khu vực Châu Âu Thái Bình Dương" và tuyên bố “đặc biệt coi trọng vai trò của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và của Hoa Kỳ - một cường quốc Thái Bình Dương”. Điều này cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đang tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ nhưng cũng không muốn gây mất lòng Trung Quốc.
Vấn đề là Việt Nam không có cùng định nghĩa về "đối tác chiến lược". Một quốc gia có thể có nhiều đối tác chiến lược về kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng không thể có nhiều đối tác về quốc phòng vì một lý do giản dị, không quốc gia nào muốn những bí mật quốc phòng của mình bị đối phương nắm giữ. Khi hợp tác quốc phòng, mỗi quốc gia phải cho đối tác hoặc đồng minh của mình biết thêm chi tiết về chiến lược đang áp dụng. Tại Biển Đông, Hoa Kỳ và Trung Quốc rất muốn biết chiến lược khai triển của nhau trong khu vực. Trong khi đó, phía Việt Nam chỉ muốn được Hoa Kỳ bảo vệ khi bị Trung Quốc tấn công (nếu có) và với Trung Quốc phía Việt Nam không những tình nguyện cộng tác toàn diện mà còn nhờ Trung Quốc huấn luyện vào đào tạo những sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội. Song song với những ước muốn đó, Việt Nam còn muốn công tác chiến lược với những cường quốc quân sự khác trong vùng như Nga, Ấn Độ và Pháp.
Trên bình diện địa lý chiến lược, đối tác chiến lược chính của Việt Nam phải là các quốc gia ASEAN, nhưng Việt Nam lại không tin vào sự sốt sắng của những quốc gia cùng khối này. Ngoài mặt, Hà Nội ủng hộ Philippines trong việc tố cáo Bắc Kinh nhưng trong thực tế lại cùng với Trung Quốc tiếp tục xác nhận chủ quyền trên các đảo và bãi đá trên quần đảo Trường Sa mà Philippines nói là của mình.
Trong hội thảo mang tên "Đoàn kết của ASEAN và những thách thức hàng hải ở Biển Đông và Châu Á-Thái Bình Dương", do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Châu Á và Học viện An ninh và Nghiên cứu Quốc tế đồng tổ chức tại Bangkok ngày 21/06/2013, nội dung những bài phát biểu cho thấy sự cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ làm suy yếu sự đoàn kết nội bộ giữa các quốc gia ASEAN. Mỗi quốc gia ASEAN có cái nhìn khác nhau về vai trò của Hoa Kỳ và Trung Quốc vì quyền lợi riêng của quốc gia mình, do đó không thể có tiếng nói chung trên những vấn đề liên quan đến Biển Đông. Chẳng hạn như sau gần một thập niên đàm phán, ASEAN và Trung Quốc chỉ ký được Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở Biển Đông (Declaration of Conduct-DOC) năm 2002, còn việc xây dựng một bộ luật mang tính ràng buộc hơn, Quy ước ứng xử (Code of Conduct-COC), vẫn xa vời.
Một thí dụ cụ thể: trong cuộc hội thảo ở Bangkok, chuyên gia các nước, trong đó có Việt Nam, cho rằng các tranh chấp ở Biển Đông cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế, như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982, v.v. thì trong Thông cáo chung Việt Nam-Trung Quốc, sau chuyến công du Bắc Kinh của chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, không có một câu nào hay chữ nào nhắc tới bộ luật về ứng xử COC và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982.
Chính sách bắt cá nhiều tay của Việt Nam hiện nay đang buộc những quốc gia đối tác chiến lược xét lại sự hợp tác của mình: Việt Nam là một đối tác chiến lược đáng tin cậy hay chỉ là một khách hàng mua vũ khí lớn?
Ngày 04/03/2013, bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu đã tới thăm Việt Nam trong hai ngày từ ngày 4 đến5/3. Sau khi tới thăm cảng Cam Ranh, ông Shoigu nói Nga coi Việt Nam như "một đối tác chiến lược, một người bạn lâu năm và đáng tin cậy". Hai bên Việt-Nga đã thảo luận về tình hình anh ninh khu vực cũng như hợp tác trong lĩnh vực kỹ thuật và quân sự. Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh nói Việt Nam cho phép Nga thiết lập trung tâm hậu cần kỹ thuật quân sự dùng để sửa chữa tàu, tiếp dầu, tiếp nước, tiếp lương thực thực phẩm cho các tàu đa quốc tịch ở Cam Ranh. Việt Nam và Nga cũng thống nhất việc xây dựng khu nghỉ dưỡng của quân nhân Nga tại Cam Ranh. Nhắc lại Vịnh Cam Ranh là nơi Việt Nam lập căn cứ tàu ngầm và sự tham gia của người Nga, quốc gia sản xuất tàu ngầm cho Việt Nam, là một bắt buộc. Hơn nữa hải cảng Cam Ranh là nơi Liên Xô từng đặt căn cứ hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương từ năm 1979. Hải quân Hoa Kỳ cũng đã nhiều lần sử dụng cơ sở dịch vụ của cảng Cam Ranh.
Cũng nên biết, Việt Nam là khách hàng mua vũ khí lớn của Nga. Trong vài năm gần đây, Việt Nam là khách hàng lớn  thứ 5 trong các nước mua vũ khí của Nga, với tổng trị giá các hợp đồng là 2,43 tỷ USD, chiếm 7,6% tổng xuất khẩu vũ khí của Nga. Gần đây Việt Nam đã mua của Nga 20 máy bay chiến đấu Su-30MK2, một số hệ thống tên lửa phòng không S-300, các tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9, tổ hợp cơ động ven biển Bastion với hệ thống tên lửa siêu thanh tự định vị chống tàu Yakhont, tổ hợp tên lửa phòng không Igla. Từ năm 2009, Việt Nam đã ký hợp đồng mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo Project 636 có cải biên với một tổng trị giá khoảng 3,2 tỷ USD, trong đó có chi phí lắp đặt vũ khí và một số trang thiết bị khác. Các tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được trang bị thủy lôi 53-56 hoặc TEST 76, có hỏa tiễn chống hạm 3M-54E hoặc 3M-54E1. Việt Nam sẽ mua thêm các hệ thống hỏa tiễn chống hạm Novator Club-S (SS-N-27) với tầm che phủ 300 km, v.v.
Trước đó, ngày 20/10/2012, một đoàn tướng lĩnh và quan chức của quân đội Việt Nam do thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân, dẫn đầu đang có chuyến thăm Nga với nội dung y như chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hiện nay.
Với những đối tác khác, phía Việt Nam cũng tiến hành những cuộc viếng thăm hay mời viếng thăm quân sự tương tự.
Với Trung Quốc, ngày 22/06/2013, hai tàu chiến hiện đại nhất của Việt Nam lần đầu tiên sẽ tuần tra chung với hải quân Trung Quốc trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Đó là hai tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng (HQ-011) và Lý Thái Tổ (HQ-012) đã rời quân cảng Vùng 3 Hải quân. Việt Nam nói đây là chuyến tuần tra lần thứ 15 giữa hai nước, nhưng lại là lần đầu tiên có hai chiến hạm hàng đầu của Việt Nam tham gia. Biên đội tàu của hải quân Việt Nam cũng sẽ thăm, giao lưu với Hạm đội Nam Hải tại thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Châu vào ngày 25/6. Theo Bộ Quốc phòng Việt Nam, chuyến đi lần này nhằm “xây dựng lòng tin lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác vì sự ổn định, hòa bình của khu vực”. Ông Đỗ Bá Tỵ nói Việt Nam sẵn sàng làm việc với phía Trung Quốc để tăng cường hợp tác và duy trì sự tăng trưởng ổn định của mối quan hệ song phương và quan hệ giữa quân đội với quân đội.
Trước đó, ngày 16/4/2013, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc ở cấp tổng tham mưu, ông Đỗ Bá Tỵ khẳng định "Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông. Mối tình hữu nghị Việt-Trung, tài sản vô giá do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông sáng lập và dày công vun đắp đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và được nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ cũng như giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay. Quan hệ hữu nghị Việt-Trung có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cả hai nước, cũng như đối với hòa bình, ổn định và phát triển chung của khu vực... Phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp và bền vững với Trung Quốc luôn là chủ trương nhất quán và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam".
Hai bên đã triển khai có hiệu quả nội dung của Nghị định thư giữa hai Bộ Quốc phòng ký năm 2003 và các thỏa thuận hợp tác khác, trong đó một số lĩnh vực thực sự trở thành điểm sáng trong quan hệ quốc phòng hai nước. Quân đội hai nước cũng đã tăng cường trao đổi đoàn các cấp, trong đó chú trọng gặp gỡ và tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao; tăng cường trao đổi đoàn chuyên ngành; giao lưu sỹ quan trẻ, cựu chiến binh; giao lưu văn hóa, văn nghệ… Về đào tạo, hai bên đã hợp tác một cách có hiệu quả. Học viên quân sự hai nước sau thời gian học tập đã phát huy tốt kết quả học tập cũng như vai trò cầu nối hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Quan hệ hợp tác, phối hợp giữa Hải quân, Biên phòng và các quân khu giáp biên giới tiếp tục được đẩy mạnh và đạt hiệu quả thiết thực. Thông qua các hình thức như tuần tra liên hợp trên biển và trên bộ, phối hợp diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển… đã góp phần giữ vững an ninh, trật tự khu vực biên giới, đồng thời giải quyết kịp thời các vụ việc vi phạm, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm. Các lĩnh vực hợp tác về công tác Đảng, công tác chính trị, phối hợp trong cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+)… giữa quân đội hai nước thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh. Về vấn đề trên Biển Đông, hai bên nhất trí quân đội phải là lực lượng gương mẫu đi đầu triển khai thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, trong đó có “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển”. Hai bên lưu ý cần cảnh giác không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết và lợi ích chiến lược lâu dài giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, gây mất ổn định chính trị ở mỗi nước. Bình luận gì bây giờ, rõ ràng là một sự phục tùng không điều kiện!
Với Indonesia, ngày 27/05/2013, ông Sjafrie Sjamsoeddin, thứ trưởng quốc phòng, tới Hà Nội để giới thiệu máy bay vận tải quân sự CN-295 vì Việt Nam đang cần các máy bay vận tải và nhảy dù có cửa sau với trọng tải tối đa 10 tấn.
Với Ấn Độ và Pháp, Hà Nội đã mời các tàu chiến của hai nước này ghé thăm các bến cảng Việt trong mục đích tìm hiểu khả năng chiến đấu của các loại tàu chiến trên vùng Biển Đông. Trong thực tế, đây là những hành động xã giao để ra vẻ đa phương, đa dạng trong quan hệ đối tác chiến lược.
Trong chiến tranh Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đu dây với Liên Xô và Trung Quốc để nhận viện trợ và sự giúp đỡ để chống Mỹ và tiến chiếm miền Nam. Ông Hồ Chí Minh đã thành công vì hai đối tác chiến lược, mặc dù không ưa thích gì nhau nhưng vẫn sốt sắng giúp Việt Nam vì cùng lý tưởng cộng sản và muốn đánh bại Hoa Kỳ. Lần này chiến lược đó không phù hợp với tình thế tại Đông Nam Á, đặc biệt là trên Biển Đông. Tất cả những đối tác mà Việt Nam muốn hợp tác đều là những đối thủ quyền lợi của nhau, không đối tác nào thành tâm hé lộ chi tiết chiến lược khai triển của mình trên Biển Đông cho phía Việt Nam.
Trước quá nhiều đối tác chiến lược này, không ai biết Việt Nam muốn gì. Tham vọng lợi dụng được nhiều đối tác chiến lược khác nhau là một chiến lược nguy hiểm, không ai muốn can thiệp khi Việt Nam bị lâm nguy vì sợ làm phật lòng những đối tác chiến lược khác.

ÿ Nguyễn Văn Huy

Không có nhận xét nào: