Lê Quế Lâm

Từ lòng tin chiến lược làm đất nước suy vong đến lòng tin chiến lược giúp đất nước phát triển
Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị An Ninh Shangri-la 2013
Trong bài viết “Bước đường đưa tôi tới chủ nghĩa Mác Lê” đăng trên tạp chí Echo du Vietnam ở Paris số tháng 7/1960, ông Hồ Chí Minh viết rằng :
Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước chớ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lénin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới. Đối với cách mạng Việt Nam và dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác Lê không những là một cẩm nang thần kỳ mà còn là mặt trời soi sáng con đường thẳng tới thắng lợi cuối cùng, tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Ông Hồ Chí Minh tin tưởng một cách tuyệt đối rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào con đường cách mạng vô sản, phải đứng trong quĩ đạo cộng sản và đón nhận sự ủng hộ và giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản”. Ông ca tụng chủ nghĩa Mác Lê-nin đến với cách mạng Việt Nam như “người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” (Hồ Chí Minh, Tuyển Tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1960, Tr.652 và 705).
Xuất phát từ niềm tin trên, ông Hồ Chí Minh đã bỏ lỡ cơ hội giành độc lập cho đất nước bằng con đường thương lượng hòa bình khi thời cơ đến. Khi Thế chiến II vừa chấm dứt, theo thỏa thuận của các nước Đồng minh thắng trận, Pháp trở lại Nam Kỳ thuộc địa thảo luận với người bản xứ để Nam Kỳ được tự trị. Đến đầu năm 1946, cũng do sự thỏa thuận của Đồng minh, Pháp đưa quân ra Hà Nội, thay thế quân Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) giải giới Nhật đồng thời thảo luận với ông Hồ Chí Minh về tương lai chính trị VIệt Nam. Ông Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny - đại diện nước Pháp ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/1946 trước sự chứng kiến của đại diện các nước Đồng minh thắng trận là Trung Hoa, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng và là một thành phần của Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên Hiệp Pháp. Riêng Nam Kỳ tạm thời do Pháp quản lý để chờ cuộc trưng cầu dân ý của dân chúng ở đây. Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý này.
Để tiến tới một hiệp định chính thức và toàn bộ, hai phái đoàn Pháp và Việt Nam đã gặp nhau ở hội nghị trù bị Đà Lạt, nhưng không đi đến kết quả vì thái độ trịch thượng của Cao ủy Pháp D’Argenlieu. Y muốn tỏ ra là người đứng đầu Liên Bang Đông Dương, chủ tọa cuộc họp giữa phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và phái đoàn Nam Kỳ để thảo luận việc thống nhất Việt Nam. Cuộc đàm phán được chuyển sang Pháp, nhóm họp ở Fontainebleau từ đầu tháng 6/1946. Ngoài phái đoàn chính thức do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu, đích than ông Hồ Chí Minh cũng sang Paris tham dự đàm phán thể theo lời mời của Thủ tướng Pháp Felix Gouin.
Khi đi vào thảo luận, hai bên bất đồng ở nhiều vấn đề, then chốt là vấn đề độc lập và thống nhất VN. Vấn đề càng căng thẳng thêm khi Cao ủy D’Argenlieu công nhận Nam Kỳ là một nước Cộng hòa tự do có quy chế tương tự nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Phái đoàn Việt Nam tố cáo Pháp vi phạm Thỏa ước 6/3 khi thành lập nước Cộng Hòa Nam Kỳ. Pháp đưa ra các hiệp ước mà triều đình Huế đã ký, cho rằng Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp nên họ có quyền công nhận thể chế mới cho phần đất này. Pháp cam kết sẽ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý theo tinh thần hiệp ước sơ bộ để người dân Nam Kỳ quyết định muốn tự trị hay muốn thống nhất vào lãnh thổ Việt Nam.
Cuộc đàm phán vì thế đi vào bế tắc, một phần do Pháp dựa vào sức mạnh chỉ muốn công nhận Việt Nam là một nước tự do, sau đó mới trao trả độc lập hoàn toàn. Họ sợ rằng sự nhượng bộ quá sớm ở Đông Dương sẽ ảnh hưởng đến các thuộc địa còn lại. Mặt khác ông Hồ Chí Minh không muốn Việt Nam nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, ông chỉ muốn Việt Nam theo Liên Xô. Vì thế ông không muốn tiếp tục thương lượng với Pháp mà theo đường do Stalin vạch ra là các nước thuộc địa phải chiến đấu chống thực dân đế quốc để giành độc lập. Cuộc thương thảo với Pháp chỉ kéo dài 3 tháng. Giữa tháng 9/1946 ông Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trở về nước. Hai tháng sau, ông Hồ Chí Minh phát động Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946)
Đầu năm 1947, lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp Paul Ramadier làm thủ tướng, ông bổ nhiêm nghị sĩ Xã hội Bollaert làm Cao ủy Đông Dương thay thế D’Argenlieu. Bollaert được chính phủ Pháp cho phép đi tìm những phe phái ở Việt Nam chịu thay mặt dân tộc Việt Nam đứng ra thương thuyết với Pháp, kể cả ông Hồ Chí Minh và tổ chức Việt Minh. Tháng 5/1947, Bollaert ủy nhiệm viên cố vấn riêng là giáo sư Paul Mus, đảng viên Đảng Xã Hội và là bạn thân của Hồ Chí Minh đến tiếp xúc với ông Hồ để cố tìm một giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Paul Mus đã gặp ông Hồ Chí Minh và bộ trưởng ngoại giao của ông Hồ là Hoàng Minh Giám tại Cầu Đuống (Phúc Yên), nhưng không có kết quả.
Thất bại trong việc thương thuyết với ông Hồ Chí Minh, Pháp chuyển sang nói chuyện với những người quốc gia ôn hòa. Chính Paul Mus dù là bạn thân của ông Hồ Chí Minh, song ông vẫn khuyến cáo chính phủ Pháp nên tìm gặp cựu hoàng Bảo Đại. Bollaert đã cử đại diện đến Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại trở lại nắm chính quyền. Cựu hoàng đặt điều kiện tiên quyết là Pháp phải công nhận Việt Nam độc lập và thống nhất, việc qui hoàn Nam Kỳ vào lãnh thổ quốc gia là điều kiện tối yếu để ông trở lại chấp chánh. Một số nhân sĩ có uy tín đại diện ba miền Nam, Trung, Bắc cũng đến Hồng Kông thuyết phục cựu hoàng Bảo Đại đứng ra thương thuyết với Pháp. Cuối cùng ông đề cử Nguyễn Văn Xuân, nguyên là thủ tướng Cộng hòa Nam Kỳ làm thủ tướng Chính phủ Trung ương Quốc gia lâm thời thảo luận với Cao ủy Bollaert.
Ngày 8/6/1948, hai bên đã ký Thỏa ước Vịnh Hạ Long: Pháp nhìn nhận Việt Nam độc lập và tự do thực hiện việc thống nhất quốc gia. Ngày 8/3/1949 Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol đã ký Hiệp ước Elysée : Pháp chính thức nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập thống nhất thuộc khối Liên Hiệp Pháp, có chủ quyền ngoại giao và nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Ngày 1/7/1949, Quốc gia Việt Nam chính thức ra đời với vị thủ tướng đầu tiên là cựu hoàng Bảo Đại.
Cuối năm 1949, một biến cố lớn xảy ra ở châu Á: Mao Trạch Đông chiến thắng ở Hoa Lục và thành lập nước Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Đầu năm 1950, ông Hồ Chí Minh đi Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cầu viện khối cộng sản ủng hộ ông kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) kết thúc bằng hiệp định Genève 1954: đất nước bị chia đôi, miền Bắc Việt Nam trở thành tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở châu Á. Tháng 9/1960, ông Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội Đảng lần thứ III. Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược : tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam để thống nhất nước nhà. Hai nhiệm vụ trên, theo Hà Nội là “để thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa”.
Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975) kết thúc bằng Hiệp định Paris 1973 với lời mở đầu: “Nhằm mục đích tái lập hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hòa bình ở châu Á và thế giới”. Hai điều khoản chính là Điều 1 : “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Geneva năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”.
Và Điều 9:“Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ cam kết tôn trọng :
a) Quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.
b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tuyển cử thực sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.
c) Các nước ngoài sẽ không áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam”.
Hà Nội đã xé bỏ Hiệp Định Paris 1973, dùng vũ lực cưỡng chiếm Miền Nam VN, đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tháng 9/1978, tổng bí thư Lê Duẩn đến Moscow cùng Brezhnev ký Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác Việt Xô. Sau đó, cộng sản Việt Nam đưa quân sang Nam Vang lật đổ chế độ Pol Pot. Cuộc chiến Đông Đương lần thứ ba (1978-1989) kết thúc bằng Hiệp Định Paris 1991 về Cam Bốt, với cuộc tuyển cử dân chủ, tự do được tiến hành dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.
Qua các dẫn chứng trên cho thấy Đông Dương là nơi duy nhất trên thế giới có chiến tranh liên tục gần suốt nửa sau của thế kỷ 20. Cuộc chiến này tác hại nặng nề đến mối bang giao giữa các cường quốc. Vì thế, đây cũng là nơi duy nhất, trong vòng 4 thập niên đã có tới 4 hội nghị quốc tế được triệu tập có sự tham dự của tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Đó là hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, hội nghị Genève 1962 về Lào, hội nghị Paris 1973 về Việt Nam và hội nghị Paris 1991 về Cam Bốt.
Trong 3 trận chiến kể trên, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã hành sử ra sao?
Năm 1950, ông Hồ Chí Minh cầu viện Mao Trạch Đông viện trợ, giúp Việt Minh cộng sản kháng chiến chống Pháp. Đây là cơ hội giúp Mao thu hồi lại phần đất An Nam mà Mao cho rằng đã bị Pháp cưỡng chiếm trước đây. Mao còn dự tính dùng Việt Nam làm bàn đạp tiến xuống Đông Nam Á, giành lại các phần đất ảnh hưởng đã bị thực dân Âu châu thôn tính hồi giữa thế kỷ 19... Nhưng sau trận đọ sức với Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) và bị tổn thất nặng nề, Mao nhận thấy không thể thách thức Hoa Kỳ. Con đường khôn ngoan nhất là hợp tác với Mỹ, nương theo thế cờ của Mỹ để phát triển Trung Quốc.
Nhờ can dự vào cuộc chiến Đông Dương và Triều Tiên, Trung Quốc được Hoa Kỳ chấp nhận cho tham dự hội nghị Genève 1954, cùng 4 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô) thỏa thuận việc vãn hồi hòa bình ở châu Á. Triều Tiên trở lại nguyên trạng chia cắt ở vĩ tuyến 38, còn Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Trong sách Bên Thắng Cuộc (chương IV - Nạn kiều), tác giả Huy Đức có ghi lại sự kiện, trong Hội nghị Geneva, Bắc Kinh đã ép buộc Hồ Chí Minh phải chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17. “Ngày 3-7-1954, sau khi đạt được thỏa thuận với Mỹ và Pháp, Chu Ân Lai rời Geneva về gặp Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp tại Liễu Châu, thông báo với Hồ Chí Minh ý kiến của Molotov và của ông ta, dự định chia cắt Việt Nam thành hai miền ở vĩ tuyến 17. Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh nhất quyết đòi, dẫu có lùi cũng chỉ vĩ tuyến 15 hoặc tối thiểu là 16, nhưng Chu Ân Lai dọa là “Hoa Kỳ có thể nhảy vào vòng chiến và khi đó, Liên Xô và Trung Quốc sẽ không thể hỗ trợ cho Hồ Chí Minh”.
Sau hội nghị Genève 1954, Trung Quốc tách dần khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và tập hợp một lực lượng riêng dưới lá cờ dân tộc chủ nghĩa, hình thành Thế giới thứ ba. Trong cuộc chiến Việt Nam, từ 1971, Kissinger đã đến Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai nhiều lần, tìm hậu thuẫn của Trung Quốc để kết thúc cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai. Trong quyển Bên Thắng Cuộc, tác giả có nhắc đến sự kiện: sau khi Mỹ bắn phá Hà Nội và Hải phòng hồi cuối tháng Chạp năm 1972, Chu Ân Lai đã đến Hà Nội gặp Lê Duẩn và hoàng thân Sihanouk. Theo Sihanouk “thì đây là chuyến đi mà Chu Ân Lai muốn giải thích chính sách mới của Trung Quốc đối với Mỹ. Chu đã nói với các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam ‘gay gắt và cứng rắn’ rằng mối quan hệ đó sẽ dẫn đến hòa bình ở Đông Dương”. Ông Lê Duẩn đã nói với Chu: “Các đồng chí đã bán đứng chúng tôi. Các đồng chí lấy xương máu của dân tộc Việt Nam để trả giá với Mỹ. Chúng tôi biết nhưng chúng tôi không sợ, chúng tôi sẽ đánh đến cùng và nhất định chúng tôi sẽ thắng”. Ngày 5/6/1973 Chu Ân Lai lại đến Hà Nội khuyên Lê Duẩn nên thư giãn và xây dựng lực lượng, trong khoảng 5 đến 10 năm tới nên để Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia hòa bình, độc lập và trung lập. Ông Trần Phương đã nhận xét “anh Ba cay lắm vì Trung Quốc khuyên Việt Nam làm theo những gì mà họ đã thỏa thuận với Mỹ”.
Hà Nội đã khước từ lời khuyên của Bắc Kinh, dùng vũ lực thôn tính Miền Nam Việt Nam, đưa cả nước vào quĩ đạo của Liên Xô và gây chiến ở Cam Bốt. Hành động này khiến Bắc Kinh thiết lập bang giao ngay với Mỹ hồi đầu năm 1979. Từ đó cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba diễn ra. Trong suốt thập niên 1980, Bắc Kinh buộc Mạc Tư Khoa phải áp lực Hà Nội rút quân khỏi Campuchia, coi đó là một trong ba điều kiện tiên quyết để họ tái lập mối giao hảo với Liên Xô. Trong thời gian này, Đặng Tiểu Bình mở cửa giao thương với bên ngoài, đồng thời nhờ Mỹ, Tây Âu và Nhật giúp ông thực hiện kế hoạch “Bốn hiện đại hóa Trung Quốc”.
Những chi tiết trên cho thấy vì quyền lợi, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã hợp tác trong suốt 60 năm qua. Nhờ đó Trung Quốc từng bước trỗi dậy, phát triển mạnh mẽ, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới. Còn Hoa Kỳ đã kết thúc chiến tranh lạnh, chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ ở Liên Xô. Sự hợp tác của Hoa Kỳ và Trung Quốc chấm dứt 3 cuộc chiến ở Đông Dương và vãn hồi hòa bình ở châu Á còn giúp các nước ĐNÁ phát triển. Trong diễn văn khai mạc hội nghị An ninh châu Á ngày 31/5 TT Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “Nói đến hòa bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chúng ta không thể không nói đến một ASEAN đồng thuận, đoàn kết và với vai trò trung tâm trong nhiều cơ chế hợp tác đa phương”. Nhân đây, tôi xin đề cập đến các nước ASEAN. Khi cuộc chiến Việt Nam bùng phát lớn, các nước trong khu vực luôn bày tỏ mong muốn hòa bình, hợp tác và sẳn sàng góp phần giải quyết các vấn đề nội bộ của khu vực.
Tháng 10/1966 tổng thống Phi Luật Tân Ferdinand Marcos đưa ra sáng kiến hòa bình, chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng đề nghị quân ngoại nhập phải rút khỏi miền Nam Việt Nam để nhân dân ở đây thực hiện việc hòa giải dân tộc, đồng thời đề xướng kế hoạch phát triển vùng Á châu/Thái Bình Dương với việc thành lập Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB). Tháng 6/1967, 5 nước Nam Dương, Mã Lai, Singapore, Thái Lan và Phi Luật Tân thành lập Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN). Giải pháp trung lập hóa toàn cỏi Đông Dương đã được đề ra.
Đầu năm 1971, năm (5) nước ASEAN cùng các nước Châu Âu-Thái Bình Dương như Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn và Nhật nghiên cứu giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam và tìm những phương thức thích đáng để các cường quốc giảm bớt xung đột ở khu vực xung yếu này. Tháng 11/1971, năm nước ASEAN ra tuyên bố: “cùng nhau hành động để biến vùng này thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập”. Do đòi hỏi trên, Hoa Kỳ với sự tán đồng của Trung Quốc đã kết thúc chiến tranh Việt Nam bằng Hiệp Định Paris 1973 để người dân miền Nam Việt Nam tự quyết định thể chế chính trị của đất nước họ. Hoa Kỳ và Trung Quốc tin tưởng người dân Việt Nam sẽ chọn thể chế trung lập và gia nhập khối ASEAN để phát triển đất nước thời hậu chiến. Vì thế tháng 6/1973 Chu Ân Lai đã đến Hà Nội khuyến cáo Lê Duẩn thư giãn, để cho Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia được hòa bình, độc lập và trung lập trong vòng 5, 10 năm.
Sau khi đất nước Việt Nam thống nhất, tháng 7/1976 TT Phạm văn Đồng cử Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền đi thăm các nước ASEAN. Hà Nội đồng ý xây dựng Đông Nam Á thành “khu vực hòa bình, độc lập và trung lập” thay vì một “Đông Nam Á hòa bình, tự do và trung lập” như mục tiêu của ASEAN. Thiện chí của Hà Nội được ASEAN đáp ứng. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đặt quan hệ ngoại giao với Thái Lan và Phi Luật Tân là hai nước đã từng đưa quân sang giúp Việt Nam Cộng Hòa chống Cộng. Mã Lai hứa sẽ giúp Việt Nam tái thiết các đồn điền cao su đã bị chiến tranh tàn phá và mời Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước sản xuất cao su. Mã Lai còn đề nghị giúp Việt Nam phát triển kỹ nghệ tinh chế dầu cọ và xây dựng các khu nhà tiền chế ở các vùng kinh tế mới. Còn Nam Dương và Singapore đề nghị giúp Việt Nam phát triển ngành đánh cá và khai thác dầu hỏa ở ngoài khơi.
Khi cuộc xung đột Việt Nam-Campuchia vừa bộc phát, do đề nghị của Hà Nội, tháng 8/1978 lãnh tụ 5 nước ASEAN đồng loạt mời thủ tướng Phạm Văn Đồng đi thăm các nước trong vùng để mưu tìm một giải pháp hòa bình cho khu vực. Qua các thông cáo chung với lãnh tụ các nước ASEAN, Phạm Văn Đồng long trọng xác nhận một nội dung duy nhất là sẽ hợp tác với các nước trong khu vực để biến ĐNÁ thành một khu vực “hòa bình, tự do, trung lập, phồn vinh và ổn định”. Nhưng chỉ một tháng sau Hà Nội đã bội ước, khước từ sự hợp tác khu vực khi Lê Duẩn đi Mạc Tư Khoa cùng Brezhnev ký hiệp ước hữu nghị hợp tác Xô Việt ngày 3-11-1978. Lê Duẩn tuyên bố “Sự hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng của đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước...”.
Dựa vào Liên Xô, cuối năm 1978 Hà Nội đưa quân xâm lược Campuchia. Do biến cố trên, tại hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN họp ở Bali (Nam Dương) tháng 6/1979, nhiều nước ASEAN đòi có những biện pháp cứng rắn chống lại Hà Nội. Ngoại trưởng Singapore Rajaratman tố cáo cộng sản Việt Nam muốn thực hiện mưu đồ bá quyền để thống trị toàn vùng Đông Nam Á, ông coi đó là sự tuyên chiến của Hà Nội đối với các nước ASEAN.
Sự hiện diện của bộ đội cộng sản Việt Nam ở Cam Bốt tạo ra tình trạng bất ổn định ở ĐNÁ, ảnh hưởng nặng nề đến sự phồn vinh và phát triển của khu vực. Vì lẽ đó từ 1981 khối ASEAN tích cực góp phần giải quyết chiến tranh Đông Dương lần ba bằng đề nghị triệu tập một hội nghị quốc tế về Cam Bốt đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Từ khi vấn đề Campuchia được quốc tế hóa, khối ASEAN đã bảo trợ nhiều dự thảo nghị quyết hợp tình hợp lý đề giải quyết vấn đề Cam Bốt. Các đề nghị của khối ASEAN được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua với đa số phiếu ngày càng tăng từ 97 năm 1980 lên đến 124 năm 1989. Nhưng rất tiếc Hà Nội luôn bác bỏ, cho rằng nghị quyết của Liên Hiệp Quốc là sai trái, càng làm cho hố ngăn cách giữa Hà Nội và ASEAN càng đào sâu. Cuối cùng Hà Nội nhượng bộ, rút quân khỏi Cam Bốt và hội nghị Paris 1991 đã được triệu tập để kết thúc cuộc chiến ở Cam Bốt. Từ khi ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, với chủ trương canh tân đổi mới, Hoa Kỳ đã bình thường hóa bang giao với Việt Nam năm 1995 và Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1997.
Khi chiến tranh Đông Dương lần ba sắp chấm dứt, do gợi ý của thủ tướng Úc Đại Lợi Bob Hawke hồi năm 1989, khối APEC (Asia-Pacific Economic Cooperation) ra đời. Hầu như các nước ASEAN ngoại trừ Cam Bốt, Lào và Miến Điện đều là thành viên của APEC với 21 hội viên. Từ năm 2006, khối ASEAN còn thành lập một hiệp ước thương mại khu vực mang tên RCEP (Regional Comprehensive Economic Partnership) bao gồm 16 quốc gia trong khu vực Á châu Thái Bình Dương. Ngoài 10 nước ASEAN, các thành viên còn lại là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Tây Lan và Úc Đại lợi. Ngoài ra, Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) gọi tắt là TPP đã được thành hình, bao gồm 12 quốc gia : Brunei, Chí Lợi, Tân Tây Lan, Singapore, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Gia nã Đại, Mã Lai, Mễ Tây Cơ, Peru và Nhật và Việt Nam.
Việt Nam là thành viên của cả 3 tổ chức mậu dịch lớn kể trên, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước hội nghị Đối thoại Shangri-Lav: “Trước hết, Việt Nam chúng tôi có niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng trong hợp tác phát triển của khu vực”. Ông kỳ vọng Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất đối với tương lai quan hệ của chính mình cũng như của khu vực và thế giới. Qua những phân tích trong bài viết này, tôi nhận thấy không phải đợi đến ngày hôm nay, mà từ 60 năm trước, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã thể hiện vai trò và trách nhiệm của họ đối với khu vực trong nỗlực chấm dứt 3 cuộc chiến ở Đông Dương, vãn hồi hòa bình ở châu Á. Từ đó, tạo dựng những nền móng giúp các nước ASEAN ổn định và phát triển. Đó là xu thế phát triển của thời đại vì hòa bình và hợp tác của nhân loại.
Ngày nay Trung Quốc trổi dậy mạnh mẽ với tham vọng độc chiếm biển Đông. Vì quyền lợi chiến lược của mình và nhiều nước khác, Hoa Kỳ phải “xoay trục”, điều động 60% lực lượng hải và không quân trở lại châu Á để cân bằng lực lượng với Trung Quốc, nhằm tạo sự ổn định, bảo vệ hòa bình cho khu vực. Dù ngân sách quốc phòng bị cắt giảm gần 500 tỷ đô la, song lực lượng quân sự của Mỹ vẫn còn hùng hậu. Với hàng chục hàng không mẫu hạm tối tân với các chiến đấu cơ tàng hình có khả năng phóng hoả tiển... Hoa Kỳ có thừa khả năng làm tròn vai trò của mình. Đối với Trung Quốc, họ không dại gì kình chống với Mỹ, hành động này có thể làm phá sản nền kinh tế đang phát triển. Họ cũng không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ trong vài thập niên tới. Muốn bảo vệ địa vị cường quốc kinh tế số hai thế giới, Trung Quốc cần hợp tác với Mỹ để tiếp tục phát triển như thời gian qua.
Vấn đề tranh chấp ở biển Đông, Việt Nam có thể theo gương Phi Luật Tân, kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tế, dựa trên căn bản của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Bộ trưởng Quốc phòng Singapore - ông Eng Hen kêu gọi Trung Quốc và các nước ASEAN sớm hoàn tất Bộ Quy tắc Ứng xử trên biển Đông gọi tắt là COC. Với sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Châu Á, tôi tin là Trung Quốc có nhiều khả năng sẽ phải nhượng bộ, vì đó là con đường giúp Trung Quốc tồn tại và phát triển. Trung Quốc sẽ không còn dùng vũ lực để chèn ép các nước láng giềng.
Kết luận : Bài diễn văn của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị An ninh Á châu là chỉ dấu cho thấy Việt Nam đã có chủ trương chuyển hướng chiến lược. Trong quá khứ, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam vì quá tin tưởng vào tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và tất thắng của Liên Xô, đeo đuổi cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài quá lâu, gây đau thương tang tóc cho nhiều thế hệ, khiến đất nước bị tụt hậu nặng nề. Còn chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung ngay tại nơi sản sinh ra nó, nhưng giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì thực hiện cho bằng được. Dựa vào đó, cộng sản Trung Quốc đã ép cộng sản Việt Nam ký những hiệp ước về biên giới, khiến nhiểu vùng đất và biển lọt vào tay Trung Quốc như Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc. Và trong tương lai, Việt Nam có nhiều khả năng trở thành một vùng đất tự trị dưới sự thống trị của cộng sản Trung Quốc, vì đó là mục tiêu chiến lược của những người cộng sản Việt Nam bảo thủ. Vì thế tôi cho rằng lòng tin chiến lược của ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm cho đất nước suy vong. Điều may mắn cho dân tộc là Hoa Kỳ được sự tiếp tay của Trung Quốc đã làm phá sản chiến lược của ông Hồ Chí Minh. Việt Nam và các nước khối ASEAN trở thành khu vực “Hòa bình, Tự do, Trung lập”, Hợp tác với tất cả các nước vì mục tiêu Phồn vinh và Phát triển”. Với những tiêu đề trên, ngày nay ASEAN đóng vai trò trung tâm trong nhiều cơ chế hợp tác đa phương (APEC, RCEP, TPP) của khu vực châu Á Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác và thịnh vượng mà ông Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi các nước cùng nhau chung tay xây dựng lòng tin chiến lược này.
Tôi có cảm tưởng là ông Nguyễn Tấn Dũng đã đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại. Các nước ASEAN, Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ đón nhận thiện chí của ông một cách tích cực. Trước đây, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam luôn dùng “thế đu dây” dựa vào cường lực này để chống cường lực kia, để Đảng Cộng Sản Việt Nam tồn tại, xây dựng xã hội chủ nghĩa, khiến khu vực Đông Nam Á luôn trong tình trạng mất ổn định. Nay thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quyết tâm đứng về phía ASEAN và khẳng định Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và cũng không liên minh với nước này để chống lại nước khác. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã tạo được lòng tin của thế giới trong khi trong nước xảy ra cuộc tranh chấp quyền lực giữa Đảng và Chính phủ. Qua hai hội nghị Trung ương 6 và 7, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được sự tiếp tay của chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang mượn tay Đảng và sau đó là Quốc hội để hạ bệ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhưng đều bất thành. Ông Nguyễn Phú Trọng đã quá tuổi để về hưu, tham vọng của ông Trương Tấn Sang là giành quyền lãnh đạo Đảng lẫn Nhà nước để tiêu diệt “bầy sâu” tham nhũng thối nát.
Qua cuộc tranh chấp quyền lực, có thể nói Chính phủ đã thắng Đảng. Nay qua bài phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở Singapore cho thấy ông Dũng chủ trương hợp tác với các nước Châu Á-Thái Bình Dương, xây dựng khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Trong khi tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng có khuynh hướng thân Bắc Kinh, luôn phục tùng lợi ích của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tiếp nối chủ trương của Nguyễn Văn Linh với câu nói “Trung Quốc dù là bành trướng, song vẫn là xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, sự tranh chấp quyền lực hiện nay tại Hà Nội là giữa hai khuynh hướng : Đảng cộng sản Việt Nam phục vụ quyền lợi chiến lược của Trung Quốc còn Chính phủ phục vụ quyền lợi tối thượng của đất nước. Một khi chính phủ không còn phục tùng Đảng nữa thì chính phủ phải phục vụ quyền lợi của dân tộc. Đây là cơ hội để thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tranh thủ lòng tin của đồng bào, phóng thích ngay những người trẻ yêu nước Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Luật sư Cù Huy Hà Vũ và những người yêu nước bất đồng chính kiến. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm cho đất nước suy vong thì không thể tiếp tục vai trò độc tôn lãnh đạo. 

ÿ Lê Quế Lâm
(ethongluan.org)

Không có nhận xét nào: