Nguyễn Gia Dương

Trọng cầu, trọng cung: Cứng rắn bẻ tay lái
“... Thay vì đua đòi chạy theo những chính sách thời thượng được ban hành tại nhiều quốc gia tiên tiến, đáng lẽ Việt Nam nên xem cuộc khủng hoảng thế giới này như một cơ hội để thực thi một cách quả quyết chính sách tái cấu trúc nền kinh tế.
Chỉ như vậy, Việt Nam mới có thể tạo cho mình đầy đủ khả năng hầu đương đầu với những khó khăn trong ngắn hạn. Về dài hạn, tái cấu trúc hạ tầng cơ sở kinh tế cũng sẽ đưa Việt Nam vào tư thế sẵn sàng nắm bắt những cơ hội tái phát triển, một khi cơn suy thoái thế giới đi vào hồi kết...”
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa công bố bản dự đoán tăng trưởng năm 2013 và 2014. Tổ chức tiền tệ quốc tế này đã quyết định hạ mức tăng trưởng của Việt Nam xuống 5,2% (từ 5,8%) cho năm 2013 và 5,2% (từ 6,4%) cho năm 2014. Nếu so sánh với mức tăng trưởng dự đoán cho các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, phải nhìn nhận rằng đây là mức hạ giảm mạnh nhất.

Cùng thời điểm này, công ty cung cấp thông tin tài chánh Bloomberg cũng đăng tải một bài viết mang tựa đề “Việt Nam, minh tinh màn bạc đang lu mờ”. Nội dung bài này cho rằng phương châm “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã hết thời. Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn của trì trệ, Việt Nam cần mạnh dạn có những bước đi mới.

Lý do chính mà các quan sát viên đã đưa ra hầu giải thích cho tình hình xám xịt này xuất phát từ việc Việt Nam đang mất quá nhiều thì giờ trong công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế. Chính vì vậy mà tỷ lệ tăng trưởng Kinh tế Việt Nam chỉ đạt được 5,03% trong năm qua. Đây là tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ 1999 đến nay.

Ngoài ra, mặc cho những cảnh báo của nhiều tổ chức tiền tệ (IMF, World Bank), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục thi hành chính sách nới lỏng tiền tệ để cố gắng kích thích nền kinh tế và khuyến khích tiêu thụ.

Phải nói rằng chính sách kích cầu vừa được nêu trên là một sai lầm căn bản.

Ngay từ khi tình hình kinh tế Việt Nam đã bị ảnh hưởng dồn dập đến từ khủng hoảng thế giới, chính quyền Việt Nam đã lần lượt đưa ra những gói kích cầu với hy vọng chấn hưng kinh tế. Trong lúc đó, các chuyên viên kinh tế của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã lên tiếng dứt khoát bác bỏ chính sách này.

Phải khước từ chính sách kích cầu vì Việt Nam không cần và thậm chí không nên đưa ra một chính sách trọng cầu. Có rất nhiều lý do để bác bỏ nguyên tắc trọng cầu: Hạ tầng cơ sở kinh tế Việt Nam chưa có được một hệ thống lành mạnh để làm đòn bẩy và tạo được tác động giây chuyền xuất phát từ kế hoạch bơm tiền vào nền kinh tế. Hiện trạng thiếu vắng chi nhánh hạ tầng ổn định khiến mọi chính sách vực dậy nền kinh tế trở nên kém hiệu quả. Đó là chưa nói đến những thất thoát đáng kể trong tiến trình bơm tiền kích cầu. Cuối cùng, những tác động tiêu cực của một chính sách trọng cầu chắc chắn sẽ nhanh chóng xuất hiện và hoành hành xã hội Việt Nam. Hệ lụy tất nhiên là tình trạng bất ổn định trên phương diện vĩ mô: Lạm phát gia tăng, giá cả bị bóp méo; cán cân thương mại bội chi; suy thoái nặng nề hơn… bắt buộc chính quyền phải có phản ứng.

Ngoan cố trong chính sách trọng cầu, nền kinh tế Việt Nam đang đi vào thảm trạng xoắn óc không tìm được lối thoát. Lý do rất dễ nhận diện: Một cách tổng quát, khi tình huống trở nên khó khăn, phản xạ của chính quyền thường nghiêng về chương trình vực dậy kinh tế bằng kích thích tăng trưởng. Chính sách này được ban hành thông qua chương trình nới lỏng tiền tệ, mở rộng đầu tư và hạ nhiệt lãi suất. Nhưng lạm phát tức khắc tăng vọt và – ngay sau đó – ngân sách lâm vào tình trạng thâm hụt. Để chấn hưng tình thế, chương trình thắt lưng buộc bụng được ban hành và gây thêm trì trệ. Một lần nữa, nhà nước phải can thiệp và nới rộng tài khoá, khiến ngân sách bị thâm hụt và lạm phát tái tăng nhiệt. Cứ như vậy chính sách “ngược dòng tình huống” sẽ dần dần trầm trong hoá suy thoái mà không đưa ra được giải pháp thích nghi nào. Tưởng cũng cần nhắc lại rằng các nước Tây Phương cũng đã trải qua thời điểm đau thương tương tự và đã mệnh danh hiện tượng này là “Stop and go Policy”.

Với cấu trúc kinh tế Việt Nam, hiện tượng “tiến rồi khựng” này đã ló dạng trong những năm gần đây. Có thể tóm lược chính sách chấp vá này qua phương châm “đụng đâu đánh đó”. Tệ hại hơn nữa, có những liều thuốc vừa được cấp phát hoàn toàn đi ngược lại với những toa thuốc đã được kê sáu tháng trước đó. Từ thái cực này (kích thích tiêu thụ) qua thái cực kia (thắt lưng buộc bụng), chính quyền cố gắng chữa lửa trong lúc đám cháy ngày càng lan rộng.

Sáng suốt nhận diện vấn đề, Việt Nam không nên bắt chước những quốc gia khác trong việc tung ra những gói kích cầu vô lý. Thật vậy, thay vì đua đòi chạy theo những chính sách thời thượng được ban hành tại nhiều quốc gia tiên tiến, đáng lẽ Việt Nam nên xem cuộc khủng hoảng thế giới này như một cơ hội tốt để thực thi một cách quả quyết chính sách tái cấu trúc nền kinh tế. Chỉ như vậy, Việt Nam mới có thể tạo cho mình đầy đủ khả năng hầu đương đầu với những khó khăn trong ngắn hạn. Về dài hạn, tái cấu trúc hạ tầng cơ sở kinh tế cũng sẽ đưa Việt Nam vào tư thế sẵn sàng nắm bắt những cơ hội tái phát triển, một khi cơn suy thoái thế giới đi vào hồi kết.

Trong tình hình hiện nay, Việt Nam cần – hơn bao giờ và hơn mọi quốc gia nào – một chính sách trọng cung để tái cấu trúc nền kinh tế. Nhưng tái cấu trúc là gì? Thế nào là trọng cung?

Một cách dễ hiểu, và ở Việt Nam, chính sách này phải bắt nguồn từ công cuộc cải tổ toàn diện doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Phải có sự quyết tâm và lòng dũng cảm để hạn chế khu vực DNNN. Đi xa hơn, phải giải thể, phải phân ngành (Split-off) và rồi từng bước tư hữu hoá DNNN. Đối với những khu vực đòi hỏi sự hiện diện của nhà nước, cần vô hiệu hoá những tác động tiêu cực mà DNNN có thể gây ra cho nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh bất bình đẳng, thị trường bị bóp méo, các đối tượng kinh tế bị ru ngủ vì những giá cả được ban hành.

Nói một cách khác đi, hệ lụy của nguyên tắc trọng cầu là, một mặt, giới hạn tối đa DNNN. Mặt khác, cần triệt để cải thiện phần còn lại của khu vực DNNN (nghiêm cấm hình thức liên doanh, chỉ tập trung vào một vài kỹ nghệ, thực thi luật cạnh tranh cho DNNN, minh bạch hoá giá cả). Đi xa hơn, chính sách trọng cầu cũng phải thay đổi phương cách cung ứng sản phẩm từ DNNN đến thị trường. Ở đây cũng cần mở ngoặc để ghi nhận rằng – một cách gián tiếp – giới hạn tầm sinh hoạt của DNNN cũng là một giải pháp tối ưu để góp phần triệt tiêu tệ nạn tham nhũng. Thật vậy, tham nhũng chỉ có thể sinh sôi nẩy nở khi DNNN tập trung mọi quyền lợi và mọi ưu đãi.

Song song đó, trọng cung cũng đòi hỏi tạo điều kiện để nền kinh tế tư nhân có cơ hội trổi dậy và phát triển. Mọi cố gắng (hành chánh, thuế má, tài chánh, cung cấp tín dụng và thông tin thị trường…) đều phải đặc biệt dành ưu tiên cho doanh nhân và tư nhân, nhất là giới tiểu tư nhân hay những doanh nghiệp gia đình. Mọi sáng kiến đến từ tư nhân, với mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường, cần được khuyến kích, tuyên dương và nâng đỡ. Hãy lấy một thí dụ cụ thể và xem đó như mục tiêu: Rút ngắn thủ tục hành chánh xuống chỉ còn trong một tuần thời gian là doanh nhân có thể mở một công ty để đi vào hoạt động.

Trong ngắn hạn, những tham tán thương mại tại các toà Đại sứ phải là những nhân vật quan trọng trong ngành ngoại giao. Họ phải tập hợp những tin tức hữu ích để doanh nhân Việt Nam có thể kịp thời cung cấp đến thị trường quốc tế những dịch vụ và sản phẩm thích hợp với nhu cầu. Cộng đồng người Việt Nam nước ngoài cũng cần được quan tâm vì họ có tầm quan trọng ngang hàng với các tham tán thương mại. Nhưng muốn quan tâm và tiếp cận với cộng đồng, cần có một thái độ khiêm tốn và hoà giải. Đây vẫn còn là một vấn đề lớn cho kinh tế Việt Nam nói riêng và cho đất nước nói chung. Đi xa hơn nữa, nền giáo dục quốc gia cũng có thể góp phần củng cố chính sách trọng cung. Thay vì uốn nắn ra những chuyên gia mà hoài bảo là làm việc ở các DNNN để tiến thân, nền giáo dục nhà nước cần chú tâm vào việc đào tạo những doanh nhân táo bạo mà giấc mơ làm giàu chủ yếu là cung cấp những sản phẩm thị trường đòi hỏi.

Hệ lụy của chính sách trọng cung là hiện tượng đa dạng hoá nền kinh tế quốc gia và giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào sinh hoạt kinh tế. Trong một nền kinh tế trọng cung, chính quyền chỉ có chức năng điều động, cung cấp tin tức chính xác và hoà giải những thành phần xã hội. Nói tóm lại, chủ xướng chính sách trọng cungthay thế phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân làm chủ” bằng “Nhà nước hòa giải, Chính phủ thông tin, Tư nhân quản lý”. Trọng cung đòi hỏi sự hy sinh của mọi thành phần xã hội và nhất là của nhà nước và của chính phủ. Chính quyền Việt Nam có chấp nhận những hệ lụy đã nêu trên hay không là một vấn đề sống còn của nền độc lập kinh tế quốc gia.

Một lời cuối, chủ trương trọng cung và bác bỏ trọng cầu không hề đồng nghĩa với thái độ duy ý chí. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chính sách trọng cung cần được khuyến khích vì nó thích hợp với nhu cầu cải tổ. Nhưng khi hệ thống kinh tế đã được tu chỉnh, mọi chính sách kinh tế khác đều có thể thay thế nguyên tắc trọng cung nếu thích hợp hơn với thực trạng. Không nên bảo hoàng hơn Hoàng Đế. Chúng ta chỉ là tông đồ của Friedman (David)… khi cần. Nhưng cũng sẵn sàng trở thành môn đệ của Keynes khi thực tế đòi hỏi.
ÿ  Nguyễn Gia Dương

Không có nhận xét nào: