Dương Bắc Giải

Ngày 30 tháng Tư nhìn lại và đi tới
Thông điệp của ngày 30 tháng 4 năm nay:
Hòa giải để Hy vọng
Úc Đại lợi, 5 ngày trước ngày tưởng niệm 30/4 của Việt Nam là một ngày lễ lớn: ngày ANZACS.  Một cách bán chính thức, ngày 25 tháng 4  được coi như là ngày Quốc Khánh. Thông thường, ngày quốc khánh khắp nơi trên thế giới là một dịp để vui mừng. 
Ngày ANZACS của Úc là một ngày để tưởng tiếc và lắng lòng ý nghĩa hy sinh của quân đội Úc trong trận chiến đại bại trên bán đảo Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, năm 1915. Trong chiến dịch Gallipoli kéo dài 7 tháng,  quân đội  Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan (ANZACS, Australian anh New Zealand Army Corps) gần như bị tiêu diệt trên chiến trường  (8,700 chết và 26,000 bị thương) và phải ‘di tản chiến thuật’ và kế hoạch xâm nhập Thổ Nhĩ Kỳ bị thất bại. Nhưng ở đây người dân được nghỉ lễ để tưởng niệm một trận chiến bại không phải là chuyện bất thường.  Cũng không phải sức chiến đấu dũng cảm quân đội ANZACS trong nghịch cảnh tồi tệ nhất của mọi chiến thuật quân sự đã đi vào huyền thoại của quốc gia là chuyện khác thường, điều ngoạn mục là sự hòa giải giữa những kẻ cựu thù sau khi chiến tranh kết thúc.

Sau khi quân đồng minh đánh bại đế quốc Ottaman năm 1918, Thổ Nhĩ Kỳ độc lập và Mustapha Kemal, người chỉ huy trận địa Gallipoli,  trở thành vị tổng thống đầu tiên của nước này. Những con người vĩ đại là vì họ có tư tưởng vĩ đại đưa đến hành động vĩ đại. Tổng thống Mustapha Kemal đã không nhục mạ đoàn quân Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan bại trận mà còn chính thức dành riêng khu vực Gallipoli cho người Úc hàng năm đến viếng thăm, tưởng niệm, tu bổ phần mộ của con em họ trong tình yêu của chính đất nước của ông.
 


 
Hãy nghe ông nói với lời hòa giải trứ danh với quân thù năm 1934:
‘Với những con người anh hùng đã đổ máu và nằm xuống ở đây… Các anh chị ngày hôm nay đã nghỉ yên trên một đất nước thân thiện. Xin hãy an giấc nghìn thu. Trong lòng chúng tôi không có sự khác biệt nào giữa những người Úc (the Johnnies) và người Thổ Nhĩ Kỳ (the Mehmets) nằm sát cạnh nhau trong nghĩa trang này… và kìa, những bà mẹ đã gởi con mình ở đây từ những xứ sở xa xôi hãy lau khô dòng nước mắt; con cái các người hiện đang nằm trong lòng chúng tôi và được an nghỉ. Vì đã  nằm xuống trên đất nước này, họ cũng đã trở thành con cái của chúng tôi.’
 
Nhân ngày 30 tháng 4 năm nay, nhìn người rồi nghĩ đến ta, khó có sự cay đắng nào hơn. Đành rằng mong đợi cộng sản Việt Nam đủ tầm cao thượng và có lòng nhân ái để nói với những người lính Mỹ đã đến miền Nam chiến đấu với quân dân miền Nam và đã nằm xuống ở miền Nam những lời nhân ái hòa giải của Mustapha Kemal sau chiến tranh là không thể tưởng tượng được, thế còn với quân dân miền Nam Việt Nam cùng huyết thống, ngôn ngữ và chia sẻ lịch sử thì sao? 38 năm đã qua nhưng mỗi lần ngày 30 tháng 4 trở về là vết thương chia rẽ đất nước càng thêm sâu đậm. Điều nghịch thường hơn nữa là sự đối xử của cộng sản VN với quân dân miền Nam, trên thực tế còn tàn ác hơn cả với người dị chủng.  Vì sự bất thường nào của lịch sử, trong tâm lý của người Việt Nam hay vì thứ chủ nghĩa nào đã khiến người VN đối xử với nhau như thế? Chắc chắn lịch sử và tâm lý bệnh hoạn của một dân tộc tôn sùng bạo lực đã dự phần trong sự biến đổi người Việt Nam thành dị dạng và cái nguyên nhân chính yếu đích danh nó phải gọi là chủ nghĩa cộng sản. Cái thứ chủ nghĩa cộng sản được ông Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam đã đưa đất nước và con người VN đến nông nỗi này.

Xét cho kỹ, không phải dân tộc Việt Nam không có những đức tính vĩ đại của một dân tộc lớn mà chỉ người cộng sản Việt nam, một bộ phận cực nhỏ của dân tộc VN, đã mất những đức tính này vì chạy theo chủ nghĩa cộng sản.  Đi dưới bảng chỉ đường của chủ nghĩa Cộng sản, đảng CSVN tạo ra chiến tranh để cướp chính quyền, đào sâu và nuôi dưỡng thù hận giai cấp để giữ chính quyền và tuyên truyền xảo trá để che dấu một mặt xấu xa của chế độ. Những hành động của nhà cầm quyền cộng sản sau năm 1975 đã chứng minh cho những quan sát trên.
 
Tạo ra chiến tranh để cướp chính quyền
Ông Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ta có thể là những người tốt nhưng chủ nghĩa cộng sản đã biến họ thành những con người khác. Việc đảng cộng sản cướp được chính quyền ở miền Bắc năm 1946 đã là lịch sử nhưng nếu đảng cộng sản VN không chủ trương và khởi xướng giải phóng miền Nam thì đất nước VN đã đâu đến nông nỗi này. Miền Nam có ai muốn được giải phóng khỏi cuộc sống thoải mái và trong chế độ dân chủ tự do đâu. Lẽ phải và lẽ công bằng thì phải thấy rằng đảng cộng sản VN vì khởi động chiến tranh họ phải bồi thường tất cả thiệt hại của chiến tranh trên mọi miền đất nước, bồi thường cho phía Việt Nam Cộng Hòa và cả Hoa kỳ. Một người xông vào nhà gia chủ, đánh người rồi chiếm nhà, xua đuổi chủ nhà rồi còn đòi chủ nhà bồi thường thiệt hại do bị gia chủ đánh lại. Cái ‘công lý’ này là của bọn côn đồ. Miền Nam chỉ là nạn nhân của cộng sản VN và người Mỹ là đồng minh của VNCH trong trận tuyến chống cộng sản, tương tư như Liên Xô và Trung Quốc là đồng minh của cộng sản VN trên trận tuyến chống tự do dân chủ. Chiến tranh đã phải xảy ra vì cộng sản tổ chức chiến tranh buộc miền Nam phải chống trả, để rồi họ mượn cơ hội dùng sức mạnh cướp chính quyền. Chiến tranh là một cái ‘nghề’ duy nhất được các ông Mác-Lê truyền lại cho cộng sản để kiếm sống. Tham vọng được sự ủy thác của người dân để quản trị đất nước là mục tiêu của mọi tổ chức chính trị, không riêng gì đảng cộng sản, nhưng với các đảng phái chính trị lương thiện họ tranh thủ sự ủy thác của người dân bằng cách vận động, thuyết phục sự đồng thuận cho một dự án chia sẻ tương lai, cộng sản VN thì bằng cách giết người và tước đoạt mọi quyền của con người để áp đặt cái dự án tương lai không ai chấp nhận. Đầu nguồn của mọi tội đồ là đây.

Đào sâu và nuôi dưỡng hận thù giai cấp
Phải tạo ra hận thù để người dân giết nhau, đấu tố nhau để chế độ không có người chống đối.  Sự hận thù, nhất là khi được khuyến khích và bảo đảm không bị trừng phạt, khiến người ta có thể giết người không gớm tay. Chỉ trong chế độ cộng sản mới thấy có sự khuyến khích ‘em bé vót chông’ để giết người mà không ghê tay. Ở miền Nam không có em bé nào, cô gái nào ngồi vót chông để giết người miền Bắc. Quân đội miền Nam không có ai bắn vào người dân ở miền Bắc, chỉ toàn ngược lại. Trong Album 30/4 của giới trẻ trong nước vừa phát hành trên các trang mạng, chúng ta thấy ‘ trùng trùng đoàn quân tiến theo con đường của bác…đạp lên xác thù’ là xác ai? Chỉ là xác mẹ,  xác cha con, chồng vợ,  người thân, bạn bè nằm chết la liệt trên các con đường tỵ nạn cộng sản ở miền Nam. Có người còn bị ‘chết hai lần thịt xương nát tan’ trên đại lộ Kinh Hoàng năm 1972. Có người còn sống nhưng bị chôn cho chết ở Huế năm 1968.

Hận thù giai cấp và đấu tranh giai cấp để mọi người đều trở nên vô sản, không còn tài sản, không còn tư hữu để chế độ thu gom mọi tài sản mà độc quyền ban phát. Nghĩ đến Bắc Hàn hiện nay mà kinh, chế độ bao cấp đã tước đoạt người dân cả quyền tự vệ của bản năng. Đến phải ăn cỏ mà vẫn cho là đang sống trên thiên đàng và cám ơn lãnh tụ. Miền Bắc VN trong thời bao cấp chưa đến nỗi vinh quang như thế, nhưng sự kháng cự của người dân cũng đã bị bẻ gãy từ trong bao tử.

Người Việt Nam trước thời cộng sản không có sự thù hận đó.  Kìa, Nguyễn Trãi đã đánh cho quân Minh một trận tan tác kình ngư nhưng quyết lấy đại nghĩa thắng hung tàn và đã cấp lương thực cho họ trở về nguyên quán (thì há gì ngày hôm nay đảng cộng sản phải sợ hãi hậu duệ cái đám tàn quân của Nguyễn Trãi khi xưa đến độ phải bịt mắt người dân là đảng ta bị ‘người lạ’, ‘tàu lạ’ đánh phá, cướp bóc và đuổi ra khỏi lãnh thổ của mình?). Lòng nhân hậu vì thế đã có trong nề nếp đạo đức của người VN chỉ có thời cộng sản mới khai thác lòng thù hận và những thói tật xấu xa, ác độc của con người để bảo vệ chế độ được sống.
 
Tuyên truyền xảo quyệt
Ông Thiếu tướng công an Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược – Bộ Công an - trong bài viết “Việt nam đã 5 lần bị [Trung quốc] ‘bán đứng’’’ có nhận xét là Trung quốc có ‘hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh”. Nếu Trung quốc có hệ thống nói dối hạng nhất thì Việt Nam chạy theo học đòi Trung Quốc phải có hệ thống nói dối hạng nhì trên hành tinh vậy. Nhìn lại những lời cộng sản kêu gọi người dân tiến theo con đường của bác, như độc lập, chủ quyền, tự do, hạnh phúc, dân giàu nước mạnh xã hội văn minh, mà ngao ngán. Dưới ánh sáng của nước Việt nam Xã hội Chủ nghĩa hôm nay, mọi mặt nạ đã rơi xuống để hiện nguyên hình là những cái bánh vẽ và những chiêu bài bịp bợm.  Hê thống tuyên truyền nói dối của cộng sản Việt Nam lớn hạng nhì trên hành tinh đã ru ngủ và an ủi người dân trong suốt thời gian ‘đời ta có đảng’.

Độc lập gì đâu khi Trung Quốc gọi dạ bảo vâng, bộ chính trị CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng và nhận chỉ thị về trị nước theo ý muốn của Trung Quốc. Chủ quyền là gì khi lãnh thổ bị xâm phạm, sáp nhập, cướp đoạt, ngư dân bị bắn giết, đánh đập ngay trên lãnh thổ của mình mà cộng sản khiết sợ đến không dám gọi cả tên quân thù. Có tự do thì đâu có chế độ cộng sản, hạnh phúc nào khi đất đai bị cướp đoạt rồi còn bị bỏ tù, dân giàu thì cộng sản mất, nước mạnh thì cộng sản tan, xã hội văn minh thì cộng sản giải thể. Dù trên những cái loa độc quyền phát thanh của nhà cầm quyền cộng sản các chiêu bài này vẫn còn được ra bày bán trong buổi chợ chiều xã hội chủ nghĩa, nó đã mất tính hấp dẫn của một món hàng. Nhất là món hàng có nhãn hiệu làm tại Trung Quốc.

Người ta nói những nghịch thường mà nhà cầm quyền cộng sản làm được là vì họ có thể làm được.
Kể từ ngày 30 tháng 4 năm nay sẽ khác với những ngày 30/4 năm trước không phải vì cộng sản VN đã  thay đổi mà chính người dân VN đã thay đổi. Hệ thống nói dối hạng nhì trên toàn đầu đang bị các phong trào, tổ chức và con người dân chủ ngay trong lòng đảng cộng sản lật tẩy qua mạng lưới internet, facebook, twitter… Người dân VN đã ý thức quyền con người là bất khả xâm phạm và đang áp lực nhà cầm quyền CS phải tôn trọng ý nguyện của họ. Cơ hội nói lên ý nguyện của công dân đang được tổ chức trên khắp nước trong đợt sửa đổi hiến pháp 1992 hiện nay.

Cộng sản VN trốn tránh nghĩa vụ thực hiện hòa giải dân tộc hoặc tổ chức hòa giải dân tộc là điều chúng ta có thể đoán được. Những con người sắp chết rất sợ chết. Dự thảo sửa đổi bản Hiến Pháp 1992 cho thấy đảng cộng sản gia tăng ý đồ bảo hiểm cho mạng sống của chế độ.  Nhưng một chế độ tồi dở thì tự trong bản chất đã tiềm tàng mầm mống của định mệnh. Nó tất yếu sẽ bị đào thải sau  hồi chuông báo tử. Người dân Việt Nam cả hai miền đất nước có thể dị biệt về ý thức chính trị nhưng có chung một mẫu số chính trị. Chúng ta đều là nạn nhân của chế độ cộng sản.  Sự hòa giải giữa chúng ta - những nạn nhân của cộng sản -  sẽ là tiền đề cho mọi biến chuyển thời thế sắp tới.  Chúng ta chỉ có thể thay đổi số phận của chúng ta nếu chúng ta quyết tâm muốn làm như thế.

ÿ  Dương Bắc Giải

Không có nhận xét nào: