Phạm Việt Vinh

Một bài viết đáng chú ý
Bản Hiến Pháp được cho sửa đổi để đảng CS củng cố quyền cai trị nghiệt ngã trên đất nước VN
 "…‘Một đảng lãnh đạo chưa phải là sai lầm và đa đảng không hẳn là ưu việt’ ‚ có thể được hiểu rộng ra là: "Thông thường, một đảng lãnh đạo là sai lầm và đa đảng là ưu việt!". Về thực chất, những "chưa phải" và "không hẳn" này phủ quyết hoàn toàn việc hiến định sự lãnh đạocủaĐCS Việt Nam…”

Thời gian gần đây đã có nhiều ý kiến trong và ngoài nước về bài viết "Đa đảng chưa hẳn là ưu việt" của ông thiếu tướng công an Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ công an đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân (QĐND) ngày 26/02/2013. Tuy vậy, một số điểm đặc biệt của bài viết đã không được chú ý đến.

Điều đặc biệt biệt đầu tiên là sự xuất hiện của bài viết trên báo QĐND, cơ quan ngôn luận của Bộ quốc phòng. Khác với những trả lời phỏng vấn trước đây trên một số tờ báo khác, ông Cương đã trực tiếp gửi bài viết này cho tờ QĐND. Lẽ ra, với cương vị thiếu tướng công an, nguyên viện trưởng một viện quan trọngcủaBộ công an, ý kiến của ông Cương phải được đăng tải trên tờ Công An Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Bộ công an. Nhưng ông Cương đã không làm như vậy. Hành động "tréo giò" này cho phép người ta nghi ngờ là, phải chăng, những phát biểu của ông Cương đã không phù hợp với  ý tưởng của ban lãnh đạo Bộ công an, và chính Bộ quốc phòng mới là nơi mà ông Cương có thể chia sẻ ý kiến?

Điều đặc biệt thứ hai là nội dung và lời lẽ của bài viết. Thoạt nhìn, bài viết của ông Cương có vẻ như mang tải những lý lẽ trụ cột của Đảng cộng sản (ĐCS) Việt Nam để bảo vệ Điều 4 Hiến pháp, bảo vệ sự lãnh đạo độc tôn của ĐCS đối với đất nước Việt Nam, và đưa ra một vài "góp ý xây dựng" để củng cố vị thế độc quyền đó. Nhưng nếu nhìn kỹ, các lý lẽ trụ cột này hết sức lung lay, và những "góp ý xây dựng" lại là những thách đố không thể vượt qua đối với ĐCS Việt Nam.

Trùng lặp với khẳng định của ban lãnh đạo ĐCS, ông Cương viết: "Nhân dân Việt Nam giao cho ĐCS lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Khó có tuyên ngôn nào hài hước và trơ tráo hơn khẳng định trên. "Sự lãnh đạo toàn diện và triệt để"của ĐCS Việt Nam là một chiếc vòng "kim cô" do chính Đảng cộng sản đặt lên đầu nhân dân Việt Nam. Điều 4 Hiến pháp được thông qua bởi các nhiệm kỳ Quốc hội khi các thành viên Quốc hội đã được ĐCS lãnh đạo "toàn diện và triệt để" từ lâu. Từ trước tới nay, ngoài trừ Quốc hội năm 1946, Quốc hội tại Hà Nội là của ĐCS Việt Nam. Quyết định của Quốc hội là quyết định của ĐCS, chứ không phải là của nhân dân Việt Nam. Nói nhân dân Việt Nam đã "giao quyền lãnh đạo duy nhất" cho ĐCS là một điều dối trá ai cũng thấy rõ.
 

Ông Cương cho rằng, khi "nhân dân Việt  nam giao cho ĐCS Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội với niềm tin và hy vọng là đất nuớc sẽ phát triển nhanh chóng sánh vai với các cường quốc, chí ít cũng không thua kém các nước phát triển trung bình trong khu vực", thì ĐCS Việt Nam không những "phải  chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình" như Dự thảo Hiến pháp của ĐCS đã viết, mà phải "chịu trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc Việt Nam về kết quả lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Sẽ không ngoa nếu cho rằng đây là một lời buộc tội gián tiếp đối với ĐCS. Sau vài chục năm trời, kết quả lãnh đạo của ĐCS là quá rõ: mặc cho những tiến triển kinh tế đáng kể, Việt Nam vẫn tụt hậu một cách đáng xấu hổ, vẫn "thua kém các nước phát triển trung bình trong khu vực" và giấc mơ "sánh vai với các cường quốc" vẫn xa vời; thay vào đó, Việt Nam lại tiến lên vị trí một trong những nước đứng đầu về nạn tham nhũng, về hố ngăn cách giàu nghèo, và đã đánh mất thêm hàng trăm nghìn Km² lãnh thổ và lãnh hải. Rõ ràng, theo ý của ông Cương thì "niềm tin và hy vọng" của nhân dân Việt Nam đối với ĐCS đã hoàn toàn phá sản, và ĐCS Việt Nam phải lãnh chịu trách nhiệm một cách nặng nề.

Những bất hạnh chồng chất tại Việt Nam có rất nhiều lý do nằm ngoài ĐCS Việt Nam, …những đổ vỡ, mất mát do chế độ độc đảng cũng lại quá rõ ràng, và việc định chế hóa vai trò lãnh đạo quốc gia của một tổ chức duy nhất,  cấm đoán tự do tư tưởng, triệt tiêu cạnh tranh chính trị là nguyên do chính cho sự tụt hậu của quốc gia hiện nay.

Ở đây, ông Cương đã bỏ ngỏ hình thức chịu trách nhiệm của ĐCS Việt Nam. Và vấn đề này cũng nổi bật trong phần hai của bài viết. Trong phần này, ông Cương không đồng tình với Dự thảo sửa đổi của ĐCS là "Các tổ chức Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật". Ông đề nghị: "Trong hoạt động, mọi tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phuơng, cơ sở và mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật". Điều khác biệt nằm ở chỗ ĐCS không chỉ phải "hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật", mà còn phải "chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật". Vậy nếu như nhiều "tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương", nhiều đảng viên, kể cả các đảng viên cao cấp nhất,  trắng trợn vi phạm Hiến pháp và pháp luật như thực tế đã, đang và sẽ diễn ra, thì điều gì sẽ phải đến?

Đối với hai câu hỏi hệ trọng trên, ông Cương đã chỉ viện dẫn ra "Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV" và "Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X), trong đó, chủ yếu là lời kêu gọi "các cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu trong lối sống", và chủ trương ĐCS Việt Nam phải "xây dựng cơ chế giám sát và phản biện". Trong định chế "một đảng lãnh đạo duy nhất và toàn diện", tức là "vừa đá bóng vừa thổi còi", các lời kêu gọi đạo đức, các đề nghị "giám sát và phản biện" chỉ là những biểu hiện vừa dối trá, vừa đáng thương. Nó thiếu vắng hoàn toàn những cơ chế và biện pháp chế tài phải có. Đối với một tổ chức chính trị cầm quyền như  ĐCS Việt Nam hiện nay, hình thức chế tài đó là phế truất vai trò lãnh đạo.

Trong lập luận bảo vệ việc "để lại Điều 4", ông Cương đã đưa ra những ý kiến hết sức đáng ngờ. Một đằng ông viết ngay tại phần đầu: "Xét đến cùng, Điều 4 Hiến pháp 1992 thể hiện đây đủ nhất, ngắn gọn nhất bản chất chính trị của thể chính trị Việt Nam hiện nay", nhưng để bảo vệ nó, với vị thế là một trong những lý luận gia hàng đầu của chính quyền, ông đã "không tranh luận khía cạnh chính trị mà chỉ xin tiếp cận vần đề từ một góc độ khác, chủ yếu từ thực tiễn". Soi xét một vấn đề chính trị quan trọng nhất của quốc gia không trên khía cạnh chính trị mà chỉ từ góc độ thực tiễn sẽ không khác gì bắt một bệnh nhân uống thuốc nhưng không cho biết tên và tác dụng của thuốc mà chỉ cho biết trọng lượng của thuốc. Đó là một cử chỉ không tự tin, và không đáng tin. Có vẻ như ông Cương gián tiếp muốn thú nhận là Điều 4 hoàn toàn không có một hậu thuẫn lý luận hợp thời.

Sự so sánh thực tiễn giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hết sức khập khiễng. Ít ai ngây thơ để tin rằng khi có đa đảng thì bất cứ một quốc gia nào cũng phồn vinh. Ấn Độ với những đặc điểm hạn chế của mình vẫn đang phải vật lộn với những vấn nạn lớn, nhưng điều dễ thấy là những vấn nạn đó không phải là do hệ thống đa đảng sinh ra, và quốc gia này rất có thể sẽ khốn đốn hơn nhiều nếu có một thể chế độc đảng. Song song với điều này, người ta có quyền đặt ra câu hỏi rằng sự phát triển tại Trung Quốc liệu có lành mạnh hơn không nếu như ở đó có cạnh tranh đa đảng, một điều mà rất nhiều trí thức Trung Quốc hiện nay đang đòi hỏi. Ông Cương cũng quá hời hợt khi đề cao sự phát triển ở Trung Quốc chỉ bằng thành tích GDP, bằng sức mạnh quân sự và khoa học công nghệ. Ông đã bỏ qua nạn tham nhũng, khủng hoảng an sinh, bất công xã hội, huỷ hoại môi trường, và trên hết là ông đã không cho thấy chính chế độ độc đảng ở Trung Quốc là tội nhân của cuộc Đại cách mạng văn hoá, là thủ phạm của các hành động gây hấn và tàn phá Việt Nam. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn trước đây, ông Cương phát biểu đại ý rằng "đại đa số nhân dân và quân nhân Trung Quốc không muốn gây hấn với Việt Nam". Vậy thì không phải nhân dân Trung Quốc, mà chính hệ thống độc đảng Trung Quốc mới là nguồn gốc cho tác tội ác gần đây đối với Việt Nam. Bên cạnh lý luận chính trị, việc người Việt Nam lên tiếng biện hộ cho ban lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc hoàn toàn có thể được coi là một hành vi phản bội lợi ích quốc gia.

Dẫn chứng quá trình phát triển tại Hàn Quốc, Đài Loan cũng kém phần thuyết phục. Các chế độ độc tài trong những năm 60-70 của thế kỷ trước tại hai quốc gia trên đã tồn tại trong khung cảnh chiến tranh lạnh; nhưng điều quan trọng nhất là ở đó, bên cạnh sự lãnh đạo độc đoán của một đảng vẫn có những tổ chức, đảng phái đối lập được tồn tại, vẫn có bầu cử tự do. Tuy các tổ chức, đảng phái đối lập bị trấn áp, nhưng về nguyên tắc, họ vẫn là những tổ chức chính trị cạnh tranh với đảng cầm quyền. Trong Hiến pháp của các quốc gia trên không hề có sự quy định vai trò "lãnh đạo duy nhất và toàn diện" cho một đảng phái cố định, tức là về thực chất, ở đó vẫn tồn tại một chế độ đa đảng

Điều đặc biệt thứ ba là những kết luận và lời lẽ của bài viết.

Đầu tiên, ông Cương nhận định: "Do đó, nếu đổ mọi lỗi lầm, tại họa cho một đảng duy nhất lãnh đạo thì khó tìm ra lời giải có sức thuyết phục...". Như trên đã nói, chỉ có những ai nông nổi mới "đổ mọi lỗi lầm, tai hoạ" gần đây của dân tộc Việt Nam cho ĐCS Việt Nam. Những bất hạnh chồng chất tại Việt Nam có rất nhiều lý do nằm ngoài ĐCS Việt Nam, nhưng những đổ vỡ, mất mát do chế độ độc đảng cũng lại quá rõ ràng, và việc định chế hóa vai trò lãnh đạo quốc gia của một tổ chức duy nhất,  cấm đoán tự do tư tưởng, triệt tiêu cạnh tranh chính trị là nguyên do chính cho sự tụt hậu của quốc gia hiện nay. Trong vị thế cầm quyền độc tôn, ĐCS Việt Nam không phải là người gây ra "mọi lỗi lầm", nhưng phải là người chịu trách nhiệm chính cho những "tai họa" của đất nước trong gần 60 năm qua.

Tiếp theo, câu kết luận của ông Cương: "Một đảng lãnh đạo chưa phải là sai lầm và đa đảng không hẳn là ưu việt" có thể được hiểu rộng ra là: "Thông thường, một đảng lãnh đạo là sai lầm và đa đảng là ưu việt!". Về thực chất, những "chưa phải" và "không hẳn" này phủ quyết hoàn toàn việc hiến định sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam. Nó kết luận sự có mặt của Điều 4 trong Hiến pháp là điều phi lý! Câu nói của Lê Lợi được ông Cương dẫn ra như một chân lý: "Đất nước thịnh vượng tất cả ở việc cử người hiền" không bao giờ trở thành hiện thực khi một đảng tự phong cho mình vai trò lãnh đạo, hiến định vai trò đó, không cho phép cạnh tranh chính trị và qua đó, không thể bị truất quyền khi vi phạm bất cứ tội lỗi nào. Quy luật muôn đời là độc quyền bao giờ cũng dẫn tới hư bại, và người dân cũng như nhà nước chỉ có thể "cử hiền" và "dụng hiền" trong một thể chế đa đảng. Điều đáng chú ý từ bài viết là khi đã không khẳng định "một đảng lãnh đạo là tất yếu", "đa đảng là phản động, là tự sát", và khi đã đề cao việc chọn "người hiền" để giúp nước thì hình như, ông Lê Văn Cuơng và một số người có trọng trách trong quân đội Việt Nam hiện tại "không hẳn" là mong muốn có Điều 4 trong Hiến pháp Việt Nam!

ÿ  Phạm Việt Vinh

Không có nhận xét nào: