Nguyễn Hưng Quốc

Ai chống nhân dân và phá nhà nước?
“…Nhân danh nhân dân, họ trấn áp ngay chính nhân dân. Mở miệng là phục vụ nhân dân, nhưng trên thực tế, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân dân…”
Nhà cầm quyền Việt Nam, từ đảng đến chính phủ, thường chơi trò ăn gian. Hình thức ăn gian phổ biến, lộ liễu và trắng trợn nhất là ăn gian trong lãnh vực chữ nghĩa. Trong lãnh vực chữ nghĩa, hai chữ hay bị ăn gian nhiều nhất là: nhân dân và nhà nước.
    Nhân dân, trên nguyên tắc, là toàn bộ những người mang quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, với nhà cầm quyền Việt Nam, chữ nhân dân vừa bị lạm dụng một cách bừa bãi lại vừa bị bóp méo một cách tùy tiện.
    Lạm dụng ở chỗ: cái gì cũng nhân dân. Quân đội nhân dân. Công an nhân dân. Ủy ban nhân dân. Nhà sách nhân dân. Rồi chính quyền nhân dân. Ở điểm này, chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa Việt Nam (cũng như các nước theo chế độ cộng sản khác) và các quốc gia dân chủ ở phương Tây. Ở phương Tây, người ta rất hiếm khi dùng chữ "nhân dân". Lý do là nó quá mơ hồ. Mơ hồ đến độ nó không có một nội dung cụ thể nào cả.
    Nhớ, cách đây mười mấy năm, có một nữ giáo sư từ Việt Nam sang thăm một trường đại học Úc ở Melbourne. Buổi tối, một giáo sư Úc tại trường đại học ấy mời chị cùng một số bạn bè nữa, trong đó có tôi, đi ăn ở một tiệm Việt Nam. Giữa bữa ăn, chị giáo sư từ Việt Nam xin phát biểu. Chị cám ơn trường đại học đã mời chị sang thăm. Chị cám ơn các giáo sư trong trường đã tiếp đãi chị một cách nồng hậu. Và chị, một cách hết sức trang trọng, nhờ vị giáo sư Úc có mặt trên bàn tiệc, chuyển lời cám ơn của chị đến "nhân dân Úc" về việc chào đón chị, người khách từ một nước xa xôi như Việt Nam. Lúc ấy, người bạn của tôi, một giảng viên về thông ngôn và phiên dịch, đang giúp dịch lời phát biểu của chị sang tiếng Anh cho các vị khách Úc hiểu, bỗng đâm ra lúng túng thấy rõ. Nhưng rồi anh cũng dịch. Vị giáo sư người Úc nghe xong, không giấu được một nụ cười kín đáo và ý nhị. Ðến lúc về, ở bãi đậu xe, vị giáo sự ấy đùa với chúng tôi, sau lưng chị giáo sư nọ: "Mấy ông bày tôi cách chuyển lời cám ơn đến ‘nhân dân Úc’ đi chứ!".
    Vì khái niệm ‘nhân dân’ rất mơ hồ, nhà cầm quyền tha hồ bóp méo nó theo bất cứ hướng nào mà họ thích. Họ tuyên bố họ được nhân dân tín nhiệm và ủy thác cho trách nhiệm lãnh đạo nhân dân dù họ chưa bao giờ tổ chức bất cứ một cuộc bầu cử nào cho đàng hoàng, tự do và minh bạch. Họ cũng thường xuyên tuyên bố nhân dân ủng hộ các chính sách của họ dù họ không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí, một cuộc thăm dò dư luận nào cả. Khi người dân, dù đông đảo, lên tiếng phê phán hay phản đối họ, họ đạp vào mặt, cho đó không phải là… nhân dân.
    Nhân danh nhân dân, họ trấn áp ngay chính nhân dân. Mở miệng là phục vụ nhân dân, nhưng trên thực tế, họ sẵn sàng chà đạp lên nhân dân. Mọi quyết định của cái chính phủ được gọi là "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" ấy bao giờ cũng được thông qua từ một nhóm nhỏ của Bộ chính trị, gồm 14 người, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương, 175 người. Dường như, với họ, chỉ có những người ấy mới là nhân dân.
    Chữ ‘nhà nước’ cũng thế. Một trong những tội danh họ thường sử dụng để trấn áp những người đối lập, thậm chí, chỉ độc lập với họ là tội "chống phá nhà nước".
    Nhưng nhà nước là gì và là ai?
    Chữ ‘nhà nước’ có thể dịch sang tiếng Anh bằng hai chữ: stategovernment. Nhưng trong tiếng Anh, hai khái niệm này khác nhau. Thứ nhất, khái niệm ‘state’ bao gồm bốn yếu tố chính: dân chúng, lãnh thổ, chủ quyền và chính phủ. Như vậy, government chỉ là một trong bốn thành tố tạo nên state. Thứ hai, state thì trường cửu trong khi government thì chỉ tạm thời, có thể thay đổi, hơn nữa, cần và nên thay đổi. Thứ ba, state bao gồm toàn bộ công dân, trong khi government thì chỉ bao gồm các cán bộ được ăn lương. Thứ tư, state là một khái niệm trừu tượng trong khi government rất cụ thể với những bộ máy và nhân sự cụ thể. Thứ năm, state gắn liền với yếu tố chủ quyền và quyền lực của nó được xem là tuyệt đối và vô giới hạn. Trong khi đó government không có chủ quyền: quyền lực của government là do hiến pháp quy định, giới hạn trong từng nhiệm kỳ. Thứ sáu, do tính phổ quát, tất cả state đều giống nhau trong khi government lại thay đổi trong cả thời gian lẫn không gian với những thể chế khác nhau.
    Trong bản tiếng Anh của các bản án tại Việt, người ta dịch tội "tuyên truyền chống phá nhà nước" lúc là "anti-government propaganda" lúc thì là "anti-state propaganda". Nhưng dưới mắt người nói tiếng Anh trong các chế độ dân chủ, cả hai đều vô nghĩa.
Họ cũng thường xuyên tuyên bố nhân dân ủng hộ các chính sách của họ dù họ không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, thậm chí, một cuộc thăm dò dư luận nào cả. Khi người dân, dù đông đảo, lên tiếng phê phán hay phản đối họ, họ đạp vào mặt, cho đó không phải là… nhân dân.
Thứ nhất, nếu "tuyên truyền chống phá nhà nước" là anti-government thì tại sao lại buộc tội những người làm việc đó ? Ở các nước dân chủ, do chủ trương government là cái nên và cần thay đổi nên không ai cấm việc tuyên truyền "anti-government" cả. Tổ chức lật đổ government bằng bạo động thì dĩ nhiên bị cấm và bị nghiêm trị. Nhưng tuyên truyền thì xin cứ tự nhiên. Ðó là cái quyền của công dân. Tất cả các đảng đối lập được bảo vệ, thật ra, là để làm cái việc anti-government ấy. Ở Úc, đảng Đối lập, do Tony Abbot lãnh đạo, suốt ngày cứ ra rả lên án thủ tướng Julia Gillard là phản phúc (trong việc lật đổ cựu thủ tướng Kevin Rudd), là nói láo (hứa rồi không làm), là bù nhìn của các thế lực đen tối trong đảng Lao Ðộng. Không sao cả. Ở Mỹ, trước cuộc bầu cử ngày 6-11-2012, đảng .
Cộng Hòa, đại diện là Mitt Romney, lúc nào cũng lên án tổng thống Barack Obama là dẫn đất nước theo một hướng hoàn toàn sai, là đã gây nên khủng hoảng kinh tế và nạn thất nghiệp trầm trọng, là bất lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, v.v. trong các diễn văn cũng như trong các quảng cáo trên radio và truyền hình. Không sao cả. Chả có ai bị bắt vì tội "tuyên truyền chống phá nhà nước" cả.
    Thứ hai, nếu "tuyên truyền chống nhà nước" là anti-state thì lại càng nghịch lý và phi thực.
    Phi thực ở chỗ không ai có thể "anti-state" - hiểu theo nghĩa là chống lại một phức thể bao gồm cả dân chúng lẫn lãnh thổ, chính phủ và chủ quyền quốc gia bằng một vài bản nhạc như Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, bằng một số bài báo như Cù Huy Hà Vũ, Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, một lá truyền đơn như Nguyễn Phương Uyên...
    Càng phi thực và phi lý hơn nữa khi nội dung của các bản nhạc, bài báo và truyền đơn ấy là chống lại sự áp bức của công an, sự độc tài của Nguyễn Tấn Dũng hay sự xâm phạm chủ quyền Việt Nam một cách ngang ngược của Trung Quốc. Nguyễn Tấn Dũng chỉ có thể buộc tội những người chống đối ông, kể cả tờ báo mạng ‘Quan Làm Báo’ gần đây, nếu ông, cũng như vua Louis XIV của Pháp, người từng tuyên bố: "Ta là Nhà nước" (L’État, c’est moi / I am the State).
    Buộc tội "anti-state" cho những người dân như Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phương Uyên, Cù Huy Hà Vũ, v.v. nghịch lý ở chỗ: Họ là người dân; họ không thể chống lại chính họ vì trong khái niệm "state" có cả khái niệm dân chúng.
    Người ta chỉ có thể có hành động "anti-state" nếu người ta ở bên ngoài. Thuộc nước khác. Từ bên ngoài, người ta mới có thể chà đạp lên người dân, cướp đoạt lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền của một nước được. Hành động "anti-state" thường bao gồm hai hình thức chính: xâm lược và khủng bố. Ở trong nước, người ta chỉ có thể có hành động "anti-state" khi người ta tiếp tay (ví dụ dưới hình thức làm gián điệp hay tay sai) với người nước ngoài để xâm lược hay để khủng bố đất nước của chính mình. Trong trường hợp đó, thứ nhất, họ tự động ly khai khỏi dân tộc, tự xem mình là người lạ với dân chúng; và thứ hai, phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.
    Hiểu theo nghĩa đó, tất cả những người đã bị tòa án Việt Nam kết tội là "chống phá nhà nước", anti-state, đều vô tội. Ðó là điều họ không làm. Và không đủ sức để làm.
    Những kẻ thực sự thỏa hiệp với nước ngoài để chia cắt lãnh thổ Việt Nam, dâng hiến chủ quyền của đất nước và chà đạp lên số phận của dân chúng mới là những kẻ "anti-state".
    Những kẻ ấy là ai, hẳn mọi người đã rõ.
Ý nghĩa thực sự của ổn định
    Trong mấy thập niên vừa qua, cả đảng Cộng sản Việt Nam lẫn đảng Cộng sản Trung Quốc đều xem sự ổn định về chính trị và xã hội là những mục tiêu hàng đầu trong việc xây dựng đất nước. Vì cái gọi là ổn định ấy, họ sẵn sàng chà đạp lên tự do, dân chủ và quyền làm người. Nhân danh ổn định, chính quyền Trung Quốc ra lệnh cho quân đội bắn xối xả vào đám thanh niên sinh viên biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Cũng nhân danh ổn định, chính quyền Việt Nam bắt bớ và bỏ tù hàng trăm người, trong đó, có những trí thức, nghệ sĩ, nhà báo và thanh niên không làm bất cứ điều gì khác ngoài việc đòi hỏi dân chủ hoặc, nhiều hơn, chỉ chống lại Trung Quốc.
    Tại sao chính quyền Việt Nam và Trung Quốc lại xem trọng sự ổn định đến như vậy?
    Có hai lý do chính.
    Một lý do được nói ra, một cách công khai, trên các phương tiện truyền thông đại chúng: Có ổn định mới có thể tập trung vào việc phát triển kinh tế, từ đó, nâng cao mức sống của dân chúng được. Báo chí tại Việt Nam thường nêu lên trường hợp của Thái Lan cách đây mấy năm như một ví dụ: chính quyền và phe đối lập cứ gầm ghè nhau; hết phe áo đỏ (ủng hộ cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra) xuống đường lại đến phe áo vàng (chống lại Shinawatra) xuống đường. Có cuộc xuống đường quy tụ cả hàng chục ngàn người. Họ chiếm các trung tâm thương mại, làm tê liệt mọi hoạt động buôn bán cả tuần lễ. Có khi các cuộc xuống đường ấy còn dẫn đến bạo động làm cả chục người bị giết chết, kể cả cảnh sát. Giới lãnh đạo Việt Nam dường như muốn nhắn nhủ dân chúng: Dân chủ là như vậy đó! Là biểu tình triền miên. Là gây bất ổn cho xã hội. Và là nguyên nhân của sự suy thoái kinh tế.
    Lý do thứ hai ít khi được nói ra, nhưng đó mới là lý do thực sự: ổn định đồng nghĩa với việc duy trì quyền lực độc tôn của đảng cộng sản. Là đừng ai giành giật quyền lãnh đạo của đảng. Thậm chí, đừng ai đòi đối lập, phê phán hay phản biện lại đảng. Là để đảng muốn làm gì thì làm. Ngay cả việc trở thành một thứ mafia tha hồ vơ vét tài sản quốc gia và chà đạp lên những quyền căn bản nhất của con người.
Liệu cái mà đảng cộng sản, ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, gọi là ổn định ấy có thực sự là ổn định không? Liệu có phải ổn định là trấn áp mọi hình thức phản kháng, dù là bất bạo động, của dân chúng?
 Trong bài này, tôi không bàn đến những ngụy biện đằng sau cách lập luận như vậy. Tôi chỉ tập trung vào một vấn đề: Liệu cái mà đảng cộng sản, ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, gọi là ổn định ấy có thực sự là ổn định không? Liệu có phải ổn định là trấn áp mọi hình thức phản kháng, dù là bất bạo động, của dân chúng?
    Câu trả lời của vô số người, hàng triệu người thuộc giới trí thức cũng như giới doanh nhân Trung Quốc là: Không.
    Trong bài "Lo lắng cho tương lai, giới chuyên môn Trung Quốc bỏ nước ra đi với số lượng kỷ lục" (Wary of future, professionals leave China in record numbers) đăng trên tờ The New York Times ngày 1 tháng 11, Ian Johnson cung cấp nhiều số liệu và ý kiến rất thú vị liên quan đến vấn đề này.
    Johnson mở đầu bài viết bằng cách kể chuyện về Trần Quốc (Chen Kuo), một phụ nữ 30 tuổi. Kuo có tất cả những gì mà tuyệt đại đa số người Trung Quốc đều đang mơ ước: làm việc cho công ty ngoại quốc, lương cao, điều kiện làm việc thoải mái, sở hữu một căn hộ sang trọng ở Bắc Kinh. Thế nhưng, vào giữa tháng 10 vừa qua, Kuo đã quyết định bỏ tất cả để sang Úc.
    Ở Úc, cô sẽ làm gì? Cô chưa biết. Chỉ có một số dự định. Nhưng chưa có gì chắc chắn cả.
    Vậy mà, cũng giống như hàng trăm ngàn người Trung Quốc khác, cô quyết định rời bỏ tất cả để bắt đầu phiêu lưu vào một vùng đất mới. Một quốc gia mới. Một văn hóa mới. Một ngôn ngữ mới. Kuo, cũng như tất cả những người ấy, có một niềm tin: Ðời sống và tương lai của họ sẽ tốt hơn hẳn nếu họ sống ở các nước Tây phương. Cơ sở cho niềm tin ấy là: ở Tây phương, môi trường chính trị, xã hội và thiên nhiên đều lành mạnh hơn, dịch vụ xã hội tốt hơn, và nhất là, người ta có tự do hơn.
    Trong khi chính quyền Trung Quốc nuôi tham vọng trở thành siêu cường quốc số một trên thế giới và bộ máy tuyên truyền của họ làm ầm ĩ về các tiến bộ họ đã đạt được trên các lãnh vực kinh tế và quân sự thì giới trí thức của họ lại ào ạt bỏ nước ra đi. Trong đó có rất nhiều người có chuyên môn cao (skilled professionals) như Kuo.
    Chỉ riêng năm 2010 đã có 508.000 người Trung Quốc xin định cư tại 34 quốc gia phát triển thuộc khối OECD (Organization for Economic Cooperation and Development, bao gồm phần lớn các quốc gia ở Âu châu, cộng với Mỹ, Úc, Nhật, Nam Hàn, Canada và New Zealand). So với năm 2000, số người xin định cư ở nước ngoài của năm 2010 tăng 45%.
    Chưa có con số thống kê chung trên phạm vi thế giới sau năm 2010. Tuy nhiên, nhìn vào một số nước chính, người ta thấy xu hướng xin định cư ở nước ngoài của người Trung Quốc ngày một gia tăng.
    Ví dụ, ở Mỹ, năm 2011 có 87.000 người Trung Quốc xin thường trú, tăng 17.000 người so với năm trước đó (70.000).
    Ở Úc, theo kết quả các cuộc kiểm tra dân số, vào năm 2001, có 142.780 người Trung Quốc (không kể người Ðài Loan hay Hồng Kông) sinh sống ; năm 2006, có 206.591 người và năm 2011, lúc cuộc kiểm tra dân số mới nhất được tiến hành, có 319.000 người. Như vậy, trong vòng 10 năm, tăng 174.000 người (trên thực tế, con số gia tăng phải cao hơn vì trong suốt 10 năm ấy thế nào cũng có nhiều người tham dự cuộc kiểm tra trước đó đã qua đời).
    Trong bài "Bỏ phiếu bằng chân" đăng trên blog này vào ngày 4-9-2012, tôi có phân tích một số nguyên nhân của việc người Trung Quốc lũ lượt kéo nhau ra nước ngoài sinh sống.
    Xin thêm một ý được Ian Johnson đặc biệt nhấn mạnh: Giới trung lưu Trung Quốc không thấy an tâm về tương lai của họ, và đặc biệt, của con cháu họ.
    Nói chung, bất chấp những thành tựu Trung Quốc đã đạt được, dân chúng Trung Quốc, nhất là giới trung lưu, vẫn thấy tương lai chính trị và xã hội của nước họ hoàn toàn bấp bênh. "Họ không nghĩ là tình hình chính trị Trung Quốc ổn định", Tào Tông (Cao Cong), phó giáo sư tại University of Nottingham, một chuyên gia về việc di dân của người Trung Quốc, nhận định. Bởi vậy, phần lớn những người di dân xem một tờ hộ chiếu nước ngoài như một sự bảo hiểm để, trong những trường hợp tồi tệ nhất xảy ra cho Trung Quốc, họ vẫn được an toàn.
    Một giám đốc người Trung Quốc giải thích : "Một tấm thẻ xanh là một cảm giác về sự an toàn. Hệ thống [chính trị] ở đây không ổn định và bạn không biết những gì sắp xảy ra cả".
    Tịnh Tể (Liang Zai), một chuyên gia về di dân tại University of Albany cũng có ý kiến tương tự: "Càng ngày càng có nhiều bất ổn và rủi ro, ngay cả ở những cấp cao nhất - ngay ở cấp cỡ Bạc Hy Lai. Ai cũng tự hỏi cái gì sẽ xảy ra trong vòng hai hay ba năm tới?".
    Như vậy, ở đây, chúng ta thấy gì? Thấy, mặc dù chính phủ Trung Quốc lúc nào cũng đề cao sự ổn định, xem ổn định là ưu tiên số một. Nhưng rõ ràng là dân chúng không xem cái chính phủ gọi là ổn định ấy là ổn định thực sự.
    Một tình trạng tương tự chắc chắn cũng đang hiện diện ở Việt Nam.
    Ổn định thực sự không phải là bóp miệng những kẻ định phản kháng hay phản biện.
    Ổn định chủ yếu nằm ở niềm tin của dân chúng đối với chính phủ và đối với cái thể chế nơi quyền lực của chính phủ đang vận hành.
    Ở Tây phương, người ta có thể không tin vào chính phủ, nhưng người ta tin vào thể chế. Và chính nhờ niềm tin ấy, chính trị và xã hội được ổn định. Một sự ổn định thực sự.
ÿ  Nguyễn Hưng Quốc
Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc VOA

Không có nhận xét nào: