Vũ Ngọc Tấn

Tinh thần mã thượng trong nội chiến Mỹ
Phim Cuốn Theo Chiều Gió được
dàn dựng kể lại toàn bộ cuộc nội
chiến Mỹ (1861-1865)
Nội chiến Mỹ (1861-1865) là một cuộc chiến tương tàn đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ: 620,000 lính Mỹ - kể cả hai miền Nam & Bắc đã bỏ mình trong cuộc chiến, cộng thêm một số rất lớn thường dân thương vong. Cuộc chiến huynh đệ tương tàn này đã đưa tới biết bao nhiêu tàn phá, thương đau, chia lìa… cho bao nhiêu triệu người và gia đình ở miền Đông Mỹ mà có lẽ ta có thể mường tượng khá rõ ràng qua cuốn phim nổi tiếng của thế kỷ “Cuốn Theo Chiều Gió”.

Phim này được phỏng theo tiếu thuyết cùng tên của Margaret Mitchell đã đoạt giải Pulitzer về văn học năm 1936 mà trong đó nàng  Scarlett O’Hara sống qua những giai đoạn thương đau của cuộc chiến. Chồng nàng ra đi vĩnh viễn sau khi tòng quân chiến đấu cho miền Nam, và Atlanta – nơi nàng ở lúc đó - tơi bời khói lửa khi tướng Bắc quân Sherman xua quân tấn công và đốt thành phố. Thương binh miền Nam nằm la liệt trong nhà thương, tràn ra ga xe lửa và ruộng đồng lân cận. Nàng mục kích cảnh những thương binh bị cắt chân sống vì nhà thương không còn thuốc mê, cảnh loạn lạc cướp bóc khi Nam quân rút lui và thành phố phút chốc trở thành vô chủ. Khi rời Atlanta trở về quê (gia trang “Twelve Oaks” ở Tara - Georgia) - thì mẹ nàng đã mất, cha nàng phát điên vì thảm cảnh chiến tranh; khu nhà ngày xưa của gia đình O’Hara huy hoàng bao nhiêu thì nay tiêu điều hoang dã bấy nhiêu. Từ một công nương khuê các, nàng đã trở thành một phụ nữ đói khát, tàn tạ. Ta còn nhớ mãi cảnh trong lúc quá đói, nàng lang thang  ra khu  vườn  sau  nhà nhổ một gốc cây  cho

Tướng Bắc quân Ulysses S. Grant trong
 thời gian nội chiến Hoa Kỳ

vào miệng nhai ngấu nghiến, rồi sau đó trong hoàng hôn trên Tara, nàng giơ tay thề với trời đất: ‘Có Trời làm chứng, tôi thề sẽ không bao giờ chịu cảnh đói khổ này nữa’ (As God is my witness, I’ll never be hungry again ).

Đó là những khổ đau, chết chóc, tan nát, chia lìa trong 4 năm nội chiến Mỹ. Nó cũng tàn nhẫn, đẫm máu, chết chóc, chia lìa như bất cứ cuộc chiến nào khác - trong đó có cuộc chiến Quốc Cộng ở VN trong những thập niên 60-70. Tuy nhiên khi kết thúc cuộc chiến - ta thấy những sự kiện hoàn toàn khác biệt xảy ra. Một điểm nổi bật trong những khác biệt này là “ tinh thần mã thượng” của kẻ chiến thắng đối với kẻ chiến bại, của kẻ còn trên lưng ngựa đối với kẻ đã ngã ngựa. 

Kết thúc nội chiến Mỹ (1865) - Nam quân đầu hàng tại Appomattox Courthouse
Trong hoàn cảnh bị vây khốn, quân lương, tiếp liệu bị quân kỵ của tướng Bắc quân Sheridan cướp mất và bị chặn đường tiến quân, binh sĩ đói khát, kiệt quệ, Tư lệnh Nam quân, tướng Robert E. Lee (1807-1870) thấy mình không còn con đường nào khác hơn là đầu hàng Bắc quân để tránh đổ máu vô ích thêm nữa. Điều này đã được Tư lệnh Bắc quân, tướng Ulysses .S Grant (1822-1885) (mở lời qua một bức thư gởi tướng Lee. Sau đó, qua thư từ trao đổi giữa hai bên (Lee và Grant) mà trong đó mỗi bức thư của cả hai bên luôn được mở đầu bằng mấy chữ “Thưa Đại Tướng” (General) cả hai đã đi tới đồng thuận là sẽ gặp nhau tại ngôi nhà của Wilmer McLean tại làng Appomattox Courthouse (tiểu bang Virginia) để thương thảo việc đầu hàng của Nam quân. Cũng cần nói thêm là trong lúc trao đổi thư từ giữa hai tướng, thì vì sinh mạng của quân hai bên đang cận chiến và mỗi giờ, mỗi phút đều có người hy sinh nằm xuống, nên mỗi lần nhận được thư của nhau, cả Lee hoặc Grant đều trả lời nhau một cách khẩn cấp. Khi Grant nhận được thư của Lee vào khoảng nửa đêm (do kỵ binh miền Nam đưa tới), xin xác nhận điều kiện để quân Nam đầu hàng - thì ngay sáng sớm hôm sau, ông đã trả lời Lee về điều kiện đầu hàng cơ bản ra sao - mặc dầu trong lúc đó, ai cũng biết là Grant bị bệnh nhức đầu triền miên. Điều kiện duy nhất mà Tướng Grant đòi hỏi là quân đầu hàng (tức quân Miền Nam) không được cầm súng để tấn công Hợp Chúng Quốc (United States - tức là tên gọi Miền Bắc lúc đó và tên này và lá cờ sao sọc của miền Bắc còn tồn tại tới ngày nay) nữa. Và kẻ chiến thắng (Grant) thay vì lựa nơi gặp mặt kẻ chiến bại (Lee) để thương thảo xác định chi tiết việc đầu hàng - thì Grant lại để cho Lee lựa nơi gặp ở bất cứ nơi nào thuận lợi cho ông ta.

Trận đánh Gettysburg quyết định giữa Nam-Bắc quân Mỹ

Cảnh Gặp gỡ: Tướng Lee tới ngôi nhà của Wilmer McLean trước và ngồi trong phòng khách rộng thênh thang ở từng dưới.Tướng Grant tới liền sau đó và vô phòng khách một mình; các sĩ quan tùy tùng của ông lễ phép ngồi đợi trên bãi cỏ bên ngoài. Sau một hồi lâu, các sĩ quan tùy tùng mới được kêu vô phòng.

Xin đọc vài mô tả của tướng H. Porter (tùy viên của tướng Grant ) về cuộc gặp gỡ lịch sử này: 

“Chúng tôi bước vô phòng, thấy tướng Grant ngồi cạnh chiếc bàn cẩm thạch ở góc phòng và tướng Lee ngồi bên chiếc bàn bầu dục cạnh cửa sổ. Chúng tôi đi vô rất nhẹ nhàng và lặng lẽ sắp xếp nhau đứng vào một bên phòng, giống như người ta đi vô thăm một bệnh nhân bị đau nặng.

“Sự tương phản giữa hai vị tư lênh hai bên rất đáng kinh ngạc. Tướng Grant (người chiến thắng) lúc đó khoảng tuổi 40, cao 1.75 (5.8 feet), vai hơi gù, tóc và râu màu nâu đậm, không một sợi bạc. Ông mặc quân phục Bắc quân màu xanh đậm, không cài khuy ở phía trước, để lộ áo gi-lê bên trong. Quần ông lận trong ủng và cả quần và ủng loang lổ vết bùn. Ông không đeo kiếm và chỉ có quân hàm trên vai là điều duy nhất cho ta biết ông là một vị tướng soái. Sự thực, ngoài quân hàm thì quân phục của ông là quân phục của một người binh nhì.

“Ngược lại tướng Lee cao 1m 82, và ngồi thật thẳng so với tuổi cuả ông (ông hơn Grant 16 tuổi), râu tóc bạc trắng. Ông mặc quân phục Nam quân màu xám; khuy cài lên tận cổ và bên suờn đeo thanh kiếm dài chuôi nạm ngọc. Giày ủng cuả ông hoàn toàn mới và thêu chỉ đỏ. Cũng giống như quần áo, ủng của ông không hề vấy bùn, và nơi gót ủng gắn đế thúc ngựa với vòng răng cưa lớn. Chiếc mũ dạ xám và đôi bao tay bằng da thú của ông đặt trên bàn”.

“Tướng Grant mở đầu câu chuyện và nói: “Tôi có gặp đại tướng trước đây, lúc chúng ta cùng phục vụ tại Mexico, khi ông từ bản doanh của tướng Scott tới thăm quân đoàn Garland của tôi.Tôi nhớ mãi hình ảnh ông, và tôi nghĩ rằng có thể nhận ra ông ở bất cứ nơi nào.”

“Tướng Lee trả lời: Tôi nhớ là có gặp ông trong dịp đó, và tôi lâu lâu có nhớ tới lần gặp gỡ này và cố mường tượng ra hình dáng ông ra sao, nhưng thú thực không thể nhớ ra một nét nào về ông”.

“Hai bên nói chuyện thêm về Mexico một hồi và sau đó chuyển sang đề tài điều kiện đầu hàng của Nam quân, khi đó Lee mới mở lời muốn Grant xác nhận điều kiện trên giấy tờ.

Grant trả lời: “Dạ được, tôi sẽ viết ra giấy” và ông kêu tùy tùng đưa ra cuốn sổ lớn. Ông mở cuốn sổ trên bàn và bắt đầu viết. Những trang giấy đã được soạn sẵn nên mỗi chữ viết của ông được in lồng qua 3 trang. Ông viết rất nhanh, và chỉ ngưng lại khi ông đã viết xong hàng chữ: “các sĩ quan do tôi chỉ định có nhiệm vụ tiếp thu (võ khí và quân dụng) từ phía Nam quân”. Sau đó, ông nhìn về phía Lee và tầm nhìn của ông dường như dừng lại bên thanh kiếm có chuôi nạm ngọc Lee đeo bên sườn. Về sau, ông tâm sự là qua cái nhìn này, ông cảm thấy không cần thiết bắt các sĩ quan phía Nam quân chịu cái nhục là phải giao nạp thanh kiếm tượng trưng cho danh dự của họ. Hơn nữa, ông nghĩ nếu bắt phải giao nạp ngựa và hành lý tùy thân cũng là gây khó khăn rất lớn cho họ. Do đó sau khi ngừng viết trong khoảng khắc, ông đặt bút viết thêm câu: “Việc tiếp thu này này không kể vũ khí đeo bên người của các sĩ quan, và cũng không kể ngựa và hành lý cuả họ”

 “Grant đưa tài liệu này cho Lee. Sau khi đọc qua Lee nói với Grant là ngựa của kỵ binh và pháo binh miền Nam (gồm cả lính) đều là ngựa riêng của họ và hỏi Grant là họ có được quyền giữ lại ngựa chăng. Grant đồng ý và sau đó Lee viết văn kiện chấp nhận điều kiện đầu hàng.

“Vào khoảng 4 giờ chiều, tướng Lee bắt tay tướng Grant, cúi chào các sĩ quan Bắc quân, và rời phòng họp cùng với đại tá Marshall. Chúng tôi (các sĩ quan Bắc quân) lần lượt đi ra theo ông và hướng về phía cổng. Lee ra hiệu cho tùy tùng mang ngựa tới, và trong lúc chờ ngựa đóng cương, ông đứng trên bậc thang, buồn bã nhìn về hướng thung lũng trước mặt và xa hơn nữa, nơi quân đoàn thân yêu của ông đang nằm mai phục - nay trong phút chốc họ đã trở thành đoàn tù nhân. Ông bước xuống lơ đãng đập hai tay vào nhau, làm như không nhìn thấy những sĩ quan Bắc quân ngồi trong sân đang lễ phép đứng bật lên khi ông đi tới, và hầu như hồn ông đang rã rời với mọi sự việc chung quanh. Các sĩ quan chúng tôi đều tỏ dấu tôn trong nỗi buồn sâu thẳm của ông và tướng Lee chắc cũng thâm cảm những người đã nhìn thấy nỗi đau của ông trong giờ phút phán xét thiêng liêng này. Ông trở về với thực tại khi ngựa được dắt tới và nhảy lên yên. Tướng Grant lúc này đã bước xuống bực thềm, đi về phía ông, ngả nón chào. Theo cung cách phong nhã của Grant, tất cả các sĩ quan Bắc quân chúng tôi có mặt cũng ngả nón chào Lee. Ông cũng lật nón ra trang trọng chào lại và sau đó quay ngựa đi, mắt nhuốm lệ…” (hết trích từ H. Porter)

Khi Lee rời Appomattox, tin đầu hàng của Nam quân được loan ra và Bắc quân bắt đầu reo mừng chiến thắng, nhưng Grant ra lệnh ngưng ngay chuyện này. Ông nói “Tôi ra lệnh ngưng tức khắc việc reo mừng chiến thắng, vì miền Nam nay đã trở thành đồng bào ruột thịt của ta, và ta không bao giờ muốn mừng vui trong đau khổ của họ”.  Chẳng bao lâu ông chính thức tới thăm quân đội miền Nam và sau đó ông và Lee cùng ngồi trước cổng ngôi nhà ở Appomattox để tiếp tân các tướng lãnh.

Sau đây là quang cảnh lễ đầu hàng của Nam quân ngày 12/04/1865 do tướng Bắc quân J. Chamberlain - người được chỉ định điều hành lễ đầu hàng này - thuật lại:

“Ý nghĩa quan trọng của dịp này làm tôi vô cùng xúc động.Tôi quyết định là nên làm sao để chứng tỏ đây là một sự thừa nhận mang nhiều ý nghĩa - và như vậy thì buổi lễ phải là một lễ dàn chào theo quân cách. Tôi thâm hiểu trách nhiệm được giao phó và sự phê bình của người sau, như những gì xảy ra sau đó đã chứng minh. Tuy nhiên tất cả những điều này không làm tôi bận tâm. Nếu cần thì ý nghĩa của buổi lể có thể được giải thích là việc dàn chào không phải là việc chào lá cờ  miền

Đại tướng Robert E. Lee của Nam quân

Nam mà là chào sự việc lá cờ này được kéo xuống trước lá cờ miền Bắc. Về ý nghĩa này, tôi không hề phải xin phép ai hoặc xin ai thông cảm.

“Trước mặt chúng tôi là những con người với nét hiên ngang trong nỗi tủi nhục. Những con người mà sự nhọc nhằn, sự đau khổ và ngay cả cái chết, cái thảm hoạ hay niềm vô vọng không làm họ thay đổi.

“Trước mặt chúng tôi trong lúc này là những con người còm cõi, đói khát nhưng vẫn đứng rất thẳng, với cặp mắt nhìn thẳng vào mắt chúng tôi, làm sống lại dĩ vãng trong đó chúng tôi là những kẻ cùng một nòi giống, cùng ràng buộc với nhau như không có cái gì có thể ràng buộc hơn nữa.  Những con người đã được thử lửa này có đáng được chúng tôi giang tay ra chấp nhận về với chúng tôi hay chăng?

“Lệnh được ban xuống.  Mỗi khi tướng dẫn đầu một quân đoàn quân Nam tới trước mặt, thì bên chúng tôi kèn hiệu sẽ nổi lên và tức thì toàn hàng quân từ phải sang trái, từ quân đoàn này sang quân đoàn khác chúng tôi đứng nghiêm bồng súng chào theo đúng quân cách. Tướng Nam quân Gordon là người dẫn đầu đoàn quân Nam, giục ngựa tới trước với khuôn mặt trĩu nặng và ủ dột. Tuy nhiên khi nghe tiếng bồng súng chào của Bắc quân, ông nhìn lên và hiểu ngay ý nghĩa của sự việc. Ông xoay ngựa lại theo một phong cách rất ngoạn mục, ngã cả người và ngựa như một trong thế chào kỵ binh trang trọng. Ông tuốt kiếm ra và chỉ kiếm thẳng xuống mũi giày. Sau đó ông quay lại ra lệnh cho tùy tùng chuyển lời cho tất cả các quân đoàn miền Nam cũng phải chào lại tương tự như vậy. Danh dự được trả lời bằng danh dự. Về phía chúng tôi (Bắc quân), không một tiếng kèn đồng trompet, không một tiếng trống, không một lời hoan hô, không một tiếng thầm thì đắc thắng, không một người trái lệnh - nhưng hoàn toàn là một sự im lặng tuyệt đối và nín thở giống như khi  ta tiễn đưa một người đã chết… (hết trích từ J. Chamberlain).

Tướng Lee không bao giờ quên lòng mã thượng và hào hiệp của Grant đối với những kẻ đã đầu hàng. Sau đó trong suốt cuộc đời còn lại, ông không thể nào chấp nhận bất cứ một người nào nói xấu Grant trước mặt ông. Và tướng Gordon cũng vậy, ông nhớ mãi việc Chamberlain ra lệnh Bắc quân nghiêm chỉnh chào kính đoàn quân đầu hàng của ông, và ông gọi Chamberlain là “Một trong những chiến binh nghĩa hiệp nhất của Bắc quân”

Đúng theo văn kiện được ký kết và mọi diễn tiến tiếp theo đã đi vào lịch sử:

- Quân đầu hàng miền Nam, lúc đó đang đói khát, được Bắc quân cung cấp lương thực.

-Toàn thể quân miền Nam không ai bị bỏ tù, ngược lại họ được tự do trở về quê quán làm ăn, được phép giữ và mang theo lừa ngựa để chuẩn bị cho việc trồng trọt vụ mùa sau đó.

- Các sĩ quan miền Nam được quyền giữ vũ khí nhẹ (súng lục, kiếm), ngựa cùng hành trang tùy thân và trở về với gia đình.

Như mọi người đều biết, sau đó Nghĩa trang Quốc gia Arlington tại Virginia được kẻ chiến thắng (miền Bắc) chấp nhận là nghĩa trang chung và quân nhân tử trận miền Nam được chôn trong nghĩa trang này cùng với Bắc quân. Đặc biệt là tướng Lee có đài tưởng niệm rất lớn ở trong đó (Robert E.Lee Memorial) - đài tưởng niệm này và khu mộ Nam quân còn tồn tại trong nghĩa trang Arlington cho tới ngày hôm nay.

Tất cả những sự kiện trên đã góp phần to lớn vào công cuộc hoà giải sau Nội chiến Mỹ. Việc này đã là then chốt cho công cuộc xây dựng một nước Mỹ hùng cường. Chỉ vài thập niên sau nội chiến, nước Mỹ đã thay nước Anh làm siêu cường mạnh nhất thế giới - và địa vị này còn là một thực tế cho tới ngày hôm nay. Tất cả những sự việc này không phải là tự nhiên mà có, mà như đã mô tả ở trên,  người Mỹ biết hoà giải với nhau - và không bao giờ muốn làm nhục nhau - trong cương vị kẻ thắng trận. Do đó, về sau kẻ thua cảm kích tấm lòng của kẻ thắng và rồi ra sức cùng nhau xây dựng nên một đất nước vĩ đại.

Trông người lại nghĩ đến ta: Người Việt đối xử với nhau
Trên đây là câu chuyện của nước Mỹ, của những người da trắng mà cha ông chúng ta cùng thời đó gọi là “bạch quỷ” (quỷ mặt trắng). Đây là tiếng chung thời nhà Nguyễn - cùng thời với Nội chiến Nam Bắc Mỹ - để chỉ những người Tây phương, những người mà cha ông chúng ta thời đó cho là không biết gì tới đạo đức thánh hiền.

Nay xin trở lại với Việt Nam chúng ta, những người tự nhận là thấm nhuần đạo đức thánh hiền, đạo đức cách mạng, cùng với tấm lòng từ bi hỉ xả mà người Á đông chúng ta vẫn tự hào, chúng ta cư xử với chúng ta ra sao.

Miền Nam đầu hàng (30/4/1975)
Việc đối xử cuả kẻ chiến thắng
30/4/75, sau khi Tổng thống miền Nam VN lúc đó là Dương Văn Minh lên Đài phát thanh Sài gòn tuyên bố đầu hàng để tránh đổ máu thêm nữa, thì như mọi người còn nhớ, dưới quyền chỉ huy của tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng, xe tăng T54 của sư đoàn 324 Bắc Việt rầm rộ tiến vào đại lộ Thống Nhất Sài gòn, ủi sập tấm cửa sắt đồ sộ dẫn vào dinh Độc Lập. Sau đó quân miền Bắc trải ra ngồi trong sân và một số sĩ quan miền Bắc đi vô bên trong phòng tiếp tân của dinh, nơi đây có Tổng thống miền Nam Dương Văn Minh, các ông Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền… ngồi chờ. Khi tướng Minh ngỏ lời: “Chúng tôi sẵn sàng để bàn giao” thì Đại tá Bùi Tín trong phái đoàn quân miền Bắc trả lời: “Các ông chẳng có gì để bàn giao hết”. Câu nói này đã chứng tỏ thật rõ tư cách của kẻ thắng trận: làm sao để sỉ nhục tàn tệ những người đã đầu hàng và tước đoạt hết danh dự của họ. Để làm hả lòng, hả dạ cho bao ngày nắm gai nếm mật, rong ruổi hy sinh chiến đấu, để cho kể chiến bại hiểu sự nhục nhã vì đã dám chống lại “quân đội nhân dân anh hùng” (Sau đó, như ta biết, Bùi Tín đã phản tỉnh và trở về với hàng ngũ những người tự do phía bên này).

Tiếp theo, tướng Dương Văn Minh cùng với tất cả quân đội và nhân viên chính quyền miền Nam bị đưa đi tù đày – hay là nói theo cách của phe chiến thắng, được đưa đi cải tạo.Theo xác nhận của chính Hà nội, lúc đó có 200,000 người thuộc nguỵ quân và ngụy quyền bị đưa đi cải tạo. Nguỵ quân là quân nhân chế độ cũ. Ngụy quyền là cảnh sát, công an, và những người phục vụ chính quyền Sài gòn trong các bộ sở mà Hà nội coi là tay chân của CIA Mỹ. Sự khác biệt giữa đi cải tạo và tù đày là, tuy cùng cảnh tù, nhưng tù đày có tuyên án chẳng hạn 5 năm hay 10 năm – và kẻ mang án tù và gia đình họ biết chắc ngày về của tù nhân để đón chờ và họ có thể xếp đặt xây dựng lại cuộc đời sau đó. Trong khi đi cải tạo thì không có án bao nhiêu năm và vì thế không bao giờ biết ngày về. Khi gia đình tìm ra được nơi giam giữ và hỏi ngày nào chồng hoặc cha chúng tôi được về thì câu trả lời ngàn lần như một của ban giám trại: “Đừng có lo, khi nào anh ấy cải tạo tốt thì sẽ được nhà nước khoan hồng cho về”.  Rồi những người vợ trẻ, ở ngoài đời bị đối xử kỳ thị và bị khinh miệt vì là vợ Ngụy, rất khó kiếm được việc làm nuôi miệng, nuôi con, nuôi chồng trong tù. Hơn nữa vì không bao giờ biết ngày người chồng thân yêu của mình được thả về đã tàn tạ tuổi xuân trong cùng cực đau khổ, cằn cỗi. Hoặc họ phải bương trải nuôi chồng hay phải bỏ rơi chồng trong tù để lập cuộc đời mới. Trong khi đó người chồng trong tù thì ngày ngày phải thành thực kê khai tội ác mình đã làm, tự sỉ nhục mình cho tới ngày kẻ thắng trận ra ơn cho về với gia đình, nếu gia đình còn chờ đợi. Năm năm, mười năm đáng lý ra phải là những năm đẹp nhất trong tuổi 30, cái tuổi sung mãn trong đời của người trai thì nay bị  mai một, nhục nhã, đói khổ tàn tạ trong tù đày.

 Và câu chuyện không chỉ dừng lại ở sự trả thù Nguỵ quân, Ngụy quyền mà toàn thể Miền Nam lúc đó bị đàn áp và đưa sâu vào vòng khốn khổ. Sau bao đợt đổi tiền, tiền bạc mồ hôi nước mắt kiếm ra sau bao năm nay đã trở thành những tờ giấy lộn. Kẻ có bạc triệu trong tay, nay chỉ được phép đổi được vài ngàn - số còn lại trở thành rơm rác vì không còn giá trị gì nữa. Đây là một sự tước đoạt tài sản trắng trợn giữa ban ngày, người người bị tước đoạt, nhà nhà bị tước đoạt, mà không ai dám kêu la, than vãn - vì nếu  phàn nàn này nọ - sẽ bị gán ngay cho hai chữ “ phản động” mà hậu qủa không thể nào lường trước được. Kẻ có cơ sở làm ăn buôn bán thì bị tịch thu sau các đợt đánh tư sản mại bản - và bị đuổi về quê làm ruộng (tức là đi “KinhTế Mới”) - và như vậy người thành thị không biết gì về nông thôn bị ép buộc đi cày sâu cuốc bẫm. Hậu quả là cả đất nước trở thành nghèo đói thê thảm như chưa từng có trong lịch sử: cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc. Thời đại tù đày, “bao cấp” này kéo dài trên hai thâp niên và thay vì phát triển thì đất nước bị kéo lùi lại 20 năm - cho tới cuối thập niên 1980, Nguyễn Văn Linh mới áp dụng “Đổi mới”- nghĩa là xoay sang “Kinh tế thị trường” (tức kinh tế Tư bản chủ nghĩa) và từ đó đất nước mới bắt đầu khá lên được.

Đối với những quân nhân miền Nam đã hy sinh trong cuộc chiến, thì tại nghĩa trang quân đội Miền Nam (ở Biên hoà), bức tượng người chiến sĩ (tượng “Thương Tiếc”) đặt trước nghĩa trang bị giật sập ngay sau ngày Bắc quân chiếm được Miền Nam. Nghĩa trang sau đó bị bỏ phế, hoang tàn cho tới ngày hôm nay.

Như đã nêu trên, trong khi người Mỹ năm xưa đã biết hoà giải ngay sau nội chiến - và chẳng bao lâu sau đó, dân cả hai miền Nam Bắc Mỹ cùng quên thù hận, tiếp tay nhau xây dựng nên một đất nước Mỹ hùng cường - thì Việt Nam ta, sau chiến tranh phía Bắc quân chiến thắng không biết hoà giải dân tộc thậm chí những ai nói tới hoà giải dân tộc còn có thể bị nghi ngờ phản động.

Cho tới ngày hôm nay nếu đảng CSVN có hiểu ra và muốn khởi động tiến trình hoà giải dân tộc, cho dù không muốn phục hồi danh dự cho quân dân cán chính miền Nam đi nữa, mà hãy nói vì tương lai chung của dân tộc VN 90 triệu người trước thế kỷ 21 cũng không muộn. Chỉ cần bắt đầu bằng một cử chỉ hoà giải như trong đề nghị của 14 nhà trí thức trong bài “Cải Cách Toàn Diện Đất Nước Để Phát Triển” là công nhận và tôn vinh những chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh mạng sống của họ để bảo vệ không một tấc đất nào của tổ quốc bị Trung Cộng chiếm đoạt vào năm 1974 là có thể mở đầu cho một trang sử mới. Dù đảng CSVN có dám công nhận tính ‘vị quốc vong thân’ của các quân nhân VNCH  hay không thì cũng chỉ chứng tỏ là đảng CSVN có sự can đảm và tính ‘mã thượng’ để vượt qua sự thù hận hay không. Còn ý nghĩa ‘vị quốc vong thân’ của những người VN yêu nước, bất kể là bộ đội miền Bắc VN hay quân nhân miền Nam VN, khi bị quân ngoại xâm tấn công, thì cũng như nhau.  Công nhận hay không công nhận không thể vì thế mà ‘tính vị quốc vong thân’ biến đổi.  Nhưng tuyệt nhiên CSVN vẫn không và không với tiến trình hoà giải dân tộc. Họ kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên quá khứ (nhưng họ không quên) để cùng đoàn kết xây dựng lại đất nước (nhưng họ không hoà giải dân tộc). Những lời kêu gọi dối trá như thế chỉ có tác dụng ngược là tố cáo thêm một sự xảo trá, quỷ quyệt và trâng tráo của đảng CSVN. Thay vì nhà cầm quyền VN hiện tại nên thành thực nhìn nhận với đồng bào miền Nam về những sai lầm trong thời “bao cấp”- đã đưa đất nước vào vòng đói khổ trong bao năm, thì lại trâng tráo ăn mừng  “Ngày Giải phóng Miền Nam 30/4 ”? Đối với những người miền Nam đã sống qua giai đoạn đó thì câu hỏi là: giải phóng ai? giải phóng cái gì? Là đưa đất nước tiến lên hay là đưa đất nước thụt lùi, tù đày, đói khổ hơn 2 thập niên?

35 năm sau: vào năm 2010, quốc hội Mỹ chấp nhận một ngân khoản 1 triệu đô la cho việc tìm kiếm quân nhân hai miền Nam Bắc VN đã mất tích trong cuộc chiến - ngân khoản này dự trù sẽ được tháo khoán qua cơ quan USAID. Số tiền này không phải là to lớn - nhưng nó là biểu tượng cho một sự hoà giải quốc gia sau 35 năm chiến tranh VN. Tuy nhiên sau khi tiếp xúc, phía VN chỉ chấp nhận dùng ngân khoản này để tìm kiếm quân nhân cộng sản miền Bắc bị mất tích mà thôi. Do đó, vào tháng 9 vừa qua (năm 2011), Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb yêu cầu cơ quan USAID ngưng việc tháo khoán ngân khoản này.

Vậy thì rõ ràng là đối với nhà cầm quyền VN  hoà giải dân tộc không hề có và thay vào đó chỉ có chuyện gây thêm thù hận dân tộc. Hậu quả là các toà đại sứ của VN tại hải ngoại – thay vì là đại diện cho kiều dân, như những toà đại sứ các nước khác – thì mặc nhiên vẫn là kẻ thù của người Việt hải ngoại. Những chủ trương, vận động của chính phủ VN, thông qua các toà đại sứ, đều gặp đủ mọi trở ngại do sự vận động nghịch đảo của người Việt hải ngoại. Người Việt hải ngoại có tiền, có thế lực, có nhân tài và có đại diện trong các chính quyền hải ngoại, họ có thể vận động được rất nhiều chuyện gây bất lợi cho chính quyền VN. Sự việc về thăm VN, gửi tiền về giúp thân nhân ở VN, hoặc Việt kiều đầu tư vào VN ... tuy có, nhưng vẫn hoàn toàn là riêng lẻ.  36 năm sau cuộc chiến, ước mơ người Việt hải ngoại sẽ mang nhân, tài, vật, lực từ hải ngoại trở về giúp xây dựng lại đất nước vẫn chưa thực hiện được chỉ vì một lý do: CSVN không học được văn hóa hoà giải quốc gia của nước Mỹ.

Văn hoá như thế nào, con người, chế độ như thế ấy. Một văn hoá tốt đẹp sẽ nảy sinh một chế độ tốt đẹp và ngược lại.  Cách ứng xử của Tướng Bắc quân Grant đối với tướng Nam quân Lee đã thể hiện tính hoà giải của Văn hoá Âu Tây.  Cách ứng xử của quân đội CSVN đối với quân đội VN Cộng Hoà cũng thể hiện tính thù hận của nền văn hoá Việt Nam. Đấy cũng là lý do tại sao nước Mỹ vẫn là siêu cường số một trên thế giới và cũng là lý do để Việt Nam vẫn nằm yên ở vị trí ‘dân nghèo, nước yếu, độc tài, bất công và tụt hậu’ hiện nay.

Vậy thay vì nền văn hoá “Danh dự được trả lời bằng Danh dự” như Chamberlain nói ở trên sau nội chiến Mỹ - thì đối với người VN là nền văn hóa “Thù hận được trả lời bằng thù hận”. Câu hỏi được đặt ra cho đảng CSVN là họ có biết nghĩ đến tương lai của dân tộc VN 90 triệu người hay không?
 Vũ Ngọc Tấn

Không có nhận xét nào: