Việt Hoàng

Đọc Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380-1442)
Bách khoa toàn thư mở viết về Nguyễn Trãi như sau: ‘Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai là đại thần nhà Hậu Lê, một nhân vật vĩ đại về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử. Công lao sự nghiệp của ông rất lớn. Đạo đức phong cách của ông rất cao đẹp. Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc’.


Trong lịch sử Việt Nam hiếm có người nào được ca ngợi như Nguyễn Trãi và cho dù lời khen có thế nào thì cũng không ai phản đối vì một lẽ đơn giản: Nguyễn Trãi xứng đáng được khen như vậy. Năm 1980, UNESCO công nhận ông là ‘Danh nhân văn hóa thế giới’. Dù bản thân ông là người quân sư chính cho cuộc kháng chiến chống quân Minh mất hơn 10 năm trời nhưng các tác phẩm mà ông để lại cho hậu thế thật đồ sộ đáng kính nể, trong đó có các tác phẩm chính như: Bình Ngô đại cáo, Quốc Âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí…

Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam dưới thời phong kiến. Tài năng của ông cộng với tư tưởng nhân nghĩa của ông thể hiện rõ trong bài “Bình Ngô đại cáo’. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại tuyệt phẩm này của ông để hiểu thêm về một người anh hùng dân tộc vĩ đại.
Phù điêu bằng Đồng chạm trổ toàn bộ: Bình Ngô Đại Cáo
Tư tưởng ‘vì dân’, lấy dân làm gốc của ông được nói đến rõ ràng ngay từ câu đầu tiên:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Ông miêu tả cảnh khốn cùng và lầm than của người dân trong 20 năm bị quân Minh đô hộ:
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;

Cảnh lầm than mà nhân dân Việt Nam phải chịu đựng xảy ra cách đây đã 600 năm và do quân xâm lược gây ra nhưng sao bây giờ vẫn cảm thấy quen quen?
Cuộc kháng chiến dù là chống quân thù hay bất cứ cuộc cách mạng, cuộc đổi đời nào thì buổi ban đầu cũng vô cùng khó khăn, thiếu thốn đủ đường, từ lực lượng đến lương thực và lòng người thì ly tán…

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Mit mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Nguyễn Trãi hiểu rằng người có ‘chính nghĩa’ có ‘chí nhân’ sẽ là người chiến thắng sau cùng chứ không phải sức mạnh của sự ‘hung tàn’ hay ‘cường bạo’:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo
Khi lòng người đã thuận, bão đã nổi lên rồi thì không gì cản được:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Những chuyện tưởng không bao giờ xảy ra đã xảy ra:
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Tướng quân Minh là Vương Thông bị quân ta vây trong thành, Liễu Thăng và Mộc Thạnh đã đem 10 vạn quân từ Vân Nam sang cứu viện. Đạo quân này đã bị quân ta đánh bại hoàn toàn. Quân Minh tuyệt vọng xin giảng hòa và rút quân về nước, nhiều tướng sĩ đòi đánh vào thành Đông Quan tiêu diệt hết quân Minh trả thù cho những tội ác mà chúng đã gây ra cho nhân dân ta nhưng Nguyễn Trãi không đồng tình, ông cho rằng phải lấy hòa hiếu, nhân nghĩa để đối đãi với kẻ thua cuộc vì ông biết dù có thua trận này, về lâu dài quân Minh vẫn mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Đây cũng là triết lý của nhà Phật là ‘lấy ân báo oán, oán sẽ hóa giải’ hay nói theo ngôn ngữ ngày nay thì đó chính là: ‘Tinh thần hòa giải và bao dung’:
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Thế gian luôn thay đổi và vũ trụ chuyển động không ngừng, sau đổ vỡ, đau thương và tang tóc sẽ đến lúc hồi sinh, hạnh phúc và viên mãn. Âu đó cũng là lẽ trời:

Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Ước mơ về một ngày mai tươi sáng sẽ đến với chúng ta nếu chúng ta biết đoàn kết và đồng thuận với nhauvề một tương lai chung, một tương lai mà tất cả mọi người đều có chổ đứng như nhau.

Cuộc đời và số phận của Nguyễn Trãi cho chúng ta hiểu rằng vì sao chế độ phong kiến phải kết thúc. Vì không có dân chủ, mọi quyền hành tập trung hết ở nhà vua nên dù là một vị đại công thần như Nguyễn Trãi cũng phải chịu một cái án oan khiên ngút trời, bị tru di tam tộc. Tội của ông đó là ông quá giỏi và quá thẳng thắn, nên bị triều đình ghen ghét. Nếu không có Nguyễn Trãi chắc gì Lê Lợi đã lấy được thiên hạ? Và cho dù Nguyễn Trãi đã chấp nhận “Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi’ nhưng ông cũng không thể thoát khỏi số phận người sĩ phu, trí thức ngày xưa, bị kẻ cầm quyền ‘vắt chanh bỏ vỏ’. Bài học lớn nhất dành cho trí thức Việt Nam ngày nay là thay vì thụ động chờ được làm ‘tôi tớ’ cho một ông vua nào đó thì hãy nhập cuộc, thay đổi tư duy cách nhìn để trí thức Việt Nam trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt và lãnh đạo quần chúng, chung tay kiến thiết một nền dân chủ thật sự cho dân tộc và đất nước để những người tài giỏi không bị hắt hủi và có cơ hội phục vụ nhân dân và tổ quốc.
Việt Hoàng

Không có nhận xét nào: