Lê Văn Tư

Đôi điều suy nghĩ về Thư Ngỏ của một số trí thức hải ngoại và một số vị Thấy
Thư ngỏ này đang làm dậy lên sự chống đối trong Cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi. Điểm công kích chính nhắm vào tiếng Thư ngỏ là coi đó như là một kiểu Kiến nghị và nhắm vào danh xưng trí thức.

Trước hết, cần phân biệt Thư ngỏ với Kiến nghị. Ý nghĩa của hai từ này rất khác nhau. Kiến nghị là loại văn bản đạo đạt một số thỉnh
nguyện lên cấp trên còn Thư ngỏ (ở đây) cũng cùng mục đích ấy đồng thời cũng muốn cho mọi người biết. Phải chăng do Thư ngỏ này biểu lộ sự hưởng ứng bản Kiến nghị ở trong nước, nên bị đồng hóa?

Dầu sao, một khi gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, Thư ngỏ đã mang ý nghĩa thừa nhận tính hợp pháp của chính quyền Việt Nam cộng sản hiện nay, trong khi tư cách của một người tỵ nạn chính trị (không chấp nhận chế độ mới trốn chạy khỏi nước) không nên làm như thế. Còn nếu họ «đã trở thành công dân nước ngoài» thì họ tự phủ nhận nguồn gốc tỵ nạn chính trị của mình rồi (vong thân), dĩ nhiên không kể số người còn mang quốc tịch Việt Nam là những người còn phải lệ thuộc chế độ hiện hành.

Cũng có người hối tiếc là tại sao không thay chữ Thư ngỏ bằng một tiếng nào khác như Lời kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam chẳng hạn. Nội dung tương tự và vẫn có thể đến tai họ (nếu họ nghe), đồng thời vẫn đạt được mục đích chính là đánh động dư luận, như thế vừa giữ được tư thế độc lập lại có vẽ sĩ khí hơn. Trái lại Thư ngỏ lại nhắm thẳng vào giới cầm quyền (qua phát biểu của một số người trong cuộc), chắc ai cũng đoán là họ chẳng mấy quan tâm.

Qua trình bày trong Thư ngỏ này, số người «còn mang quốc tịch Việt Nam» sẵn sàng hợp tác với chế độ là chuyện bình thường. Có thể họ là thành phần chủ chốt (dầu không ra mặt) chủ trương thảo ra Thư ngỏ và vận động những người khác ký tên vào. Khi nói đến vận động thì chắc không phải chỉ mời gọi có bấy nhiêu thôi (ông Lê Xuân Khoa tự cho biết lãnh nhiệm vụ này trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 31-8-2011). So với số trên 300 ngàn trí thức hải ngoại (theo Thư ngỏ ước lượng), và phạm vi vận động rất rộng (không phân biệt lập trường, quá khứ, tuổi tác, giới tính, nhứt là ảnh hưởng của mấy vị tên tuổi trong danh sách tham gia), con số 36 này có thể nói là quá khiêm tốn, đa số là ở Mỹ: 22, còn lại thì ở rải rác như ở Pháp: 7, Canada: 3, có nước chỉ mời được một vài người như Úc: 2, Anh:1, Thụy Sĩ: 1. Điều này có thể do một số người từ chối tham gia ký tên hoặc một cách nhẹ nhàng (xin hai chữ bình an), hoặc biểu lộ sự không đồng ý về hình thức hay nội dung. Điểm lại danh sách ký tên trong Thư ngỏ thì thấy có vị rất nổi tiếng (tốt cũng có mà không mấy gì tốt cũng có), nhưng cũng có nhiều vị không mấy người biết đến.

Sở dĩ Cộng đồng không biết đến họ vì dường như phần lớn sống trong tháp ngà, ít thấy họ xuất hiện trong các sinh hoạt Cộng đồng (như cùng tham gia xuống đường chống sự xâm lấn lãnh thổ của Trung cộng), liệu như vậy có phải là «năng thuyết bất năng hành» không?

Trộm nghĩ trước búa rìu dư luận, không khỏi có vị hối tiếc vì lỡ ký tên, trái lại cũng có vị ráng biện minh cho sự tham gia này, cho những người bày tỏ sự bất đồng tình với mình là: «nhóm thiểu số quá khích lại lớn tiếng chỉ trích những người ký Thư Ngỏ, hầu hết để lấy oai. Tôi không bao giờ trả lời những luân liệu xuyên tạc và lời lẽ hạ cấp của những kẻ “hành nghề” chống cộng như Ngô Kỷ ở Orange County, đã được đặt tên là “Chí Phèo Bolsa”.» (1)

Có thể có sự xích mích riêng giữa các ông Lê Xuân Khoa và Ngô Kỷ, nhưng coi thường dư luận kiểu vơ đủa cả nắm như thế quả không phải là lối xử sự của kẻ mệnh danh là trí thức, càng không phải là người trí khi «ỷ mình khôn mà chê người» (vật thị trí dĩ ngu nhân, lời của ông Thái Công).

 Đó cũng là một điểm công luận nhắm tới, đối chiếu với 20 người ký Kiến nghị ở trong nước, không thấy họ tự xưng là trí thức mà chỉ tự ghi đơn giản «Danh sách công dân ký tên vào bản kiến nghị …», mỗi vị tự điền tên họ và ký tên vào các ô định sẵn (2). Tiếng trí thức là do các vị trí thức hải ngoại tôn xưng (trong Thư ngỏ), trái lại các vị ở hải ngoại thì tự xưng là trí thức (mở đầu Thư ngỏ: Chúng tôi, một số trí thức sống tại nước ngoài, …). Dĩ nhiên để chứng minh là trí thức thiệt, trong phần đồng ký tên thì học vị, chức tước, nhiệm sở, …được liệt kê đầy đủ (3). Điều này tạo ra một làn sóng dư luận không mấy tốt đẹp cho giới trí thức hải ngoại là khiến mức độ kính trọng phần nào bị giảm đi. Có lẽ cũng vì để tránh bị mang tiếng chung mà đã có một số vị khoa bảng biểu lộ công khai không tán đồng hình thức hay nội dung Thư ngỏ này.



Về nội dung, đối chiếu bản Kiến nghị của 20 công dân trong nước với Thư ngỏ của 36 trí thức hải ngoại.

Bản Kiến nghị phân tích khúc chiết tình hình đất nước với những dẫn chứng chi tiết cụ thể. Trước tiên là mối quan hệ Việt –Trung, đặt thẳng vấn đề ở mục 1 (Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng), vạch ra thế yếu của Việt Nam: «Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90 % các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô xít, khai thác ti tan … được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung quốc với nhiều hệ quả khôn lường. …». Kế đến là nhận định về thực trạng đất nước ở mục 2 (Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn), nói thẳng về mặt xã hội: «… sự xuất hiện các giai tầng mới đi liền với những bất công mới … đang diễn biến ngược lại với mục tiên «dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.»; về mặt văn hóa, giáo dục: «nhân dân đã thấy rõ và lên án hiện tượng giả dối và tình trạng tha hóa trong lối sống và trong đạo đức xã hội.», «Nội dung, cách dạy và học, cách quản lý trong nên giáo dục của nước ta quá lạc hậu, thậm chí có nhiều sai trái.». Điểm đáng lưu ý là tuy ở trong một hoàn cảnh thiếu tự do mà bản kiến nghị vẫn toát ra được một văn phong khá mạnh mẽ, thể hiện sĩ khí «uy vũ bất năng khuất», chót hết là ở mục 3 (Kiến nghị của chúng tôi), «… chúng tôi khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ chính trị:

1.      Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt –Trung … 

2.      Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, …

3.      Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do dân chủ của nhân dân …

4.      Ra lời kêu gọi quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, …

5.      Lãnh đạo Đảng CSVN với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, hãy đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, …»

Trái lại văn phong của Thư ngỏ thì khá tầm thường, tuy nói là «chỉ trình bày ngắn gọn một số nhận định bổ túc» (bản Kiến nghị ở trong nước), nhưng nội dung hầu như tóm lược những phân tích chi tiết trong Kiến nghị, không có điểm nào mới đáng gọi là bổ túc cả. Kết thư lại quá ư nhũn nhặn: «Chúng tôi mong quý vị dũng cảm nắm lấy thời cơ duy nhất để thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ toàn diện, …».

Kinh nghiệm này cho thấy người có kiến thức rộng về một lãnh vực chuyên môn nào đó không hẳn là một người trí thức.



Về Giáo sư Vũ Quốc Thúc

Là học trò, tôi luôn thán phục kiến thức uyên bác, tài hùng biện và đức độ của Giáo sư (Gs), nhưng không vì thế mà không nói lên suy nghĩ khác biệt với vị Thầy của mình.

Cuộc đời của Gs đã được kể rõ trong hồi ký Thời đại của tôi. Gs đã từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền quốc gia. Sau ngày 30-4-1975 bị kẹt lại ở Sài Gòn một thời gian, cũng như nhiều người khác, Gs đã toan vượt biên nhưng bị Công an gạt, mất nhiều tài sản. Sau nhờ sự can thiệp của ông Raymond Barre (bạn cùng thi thạc sĩ và đương kim Thủ tướng Pháp lúc đó), gia đình Gs được chính thức sang Pháp vào giữa năm 1978, sau khi buộc lòng cống nạp hết bất động sản cho VC.

Từ khi rời khỏi đất nước, Gs không mệt mõi dấn thân vào nhiều hoạt động cứu nguy đất nước:

- Khoảng năm 19/80, cùng với Bs Trần Văn Đỗ, Gs Nguyễn Ngọc Huy, … sáng lập Liên minh dân chủ Việt Nam trong đó Gs là Phó Chủ tịch BCHTƯ, sau đó thì rút ra vì bất đồng nội bộ trong việc vận động vãn hồi Hiệp định Paris 1973.

- Vào khoảng năm 1986, Gs khởi xướng việc vận động vãn hồi Hiệp định Paris 1973, chủ trương dựng dậy nhân vật Nguyễn Văn Thiệu, “Người tôi nghĩ đến trước tiên là Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu. … Viện lý do tình thế cấp bách, ông Thiệu phải từ chức. Nhưng sau khi thấy Hà Nội vẫn tiếp tục xâm lăng miền Nam, ông có lý do chính đáng rút lại quyết định từ chức của mình. Với tư cách là một TT đã được dân bầu chính thức và chưa hết nhiệm kỳ, ông có đủ danh nghĩa theo tôi nghĩ, để yêu cầu các cường quốc thuộc phe chống cộng nêu vấn đề thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Paris.” (Hồi ký Thời đại của tôi, cuốn hai, tr 612), kết quả chẳng đi tới đâu.

- Đến năm 2000, Gs tham gia vào Hiến chương 2000 do ông Nguyễn Bá Long ở Gia Nả Đại khởi xướng, nhại theo Hiến chương 77 của Vaclav Havel Tiệp Khắc. Nhóm người chủ xướng chắc hy vọng được sự yểm trợ của Thế giới tự do. Nhưng tình hình đã thay đổi, Hiến chương 77 xuất hiện vào thời kỳ chiến tranh lạnh, Thế giới tự do tư bản lợi dụng mọi cơ hội để yểm trợ các phong trào chống cộng, trong khi năm 2000, vấn đề CS không còn là trọng điểm đáng quan tâm nữa, chuyện này ồn ào một dạo rồi cũng chìm vào quên lãng. Gs giải thích: «Chính trong lúc đó, TT Hoa Kỳ B. Clinton đang chính thức sang thăm VN. Vì thiên hạ đều chú trọng đến biến cố lịch sử này nên việc chúng tôi công bố Hiến chương 2000 đã không được dư luận chú ý và đánh giá đúng mức tầm quan trọng mà nó phải có.» (sđd, tr 677).

- Sang năm 2006, Gs nhắm vận động qui chế trung lập cho VN nhân Hội nghị thượng đỉnh của Diễn đàn Á châu –Thái bình dương Apec tổ chức tại Hà Nội. Theo Gs: «… nếu cuộc vận động này thành công sẽ có một ảnh hưởng quyết định đối với tương lai của dân tộc ta». Rốt cuộc, kết quả không như mong đợi. Gs giải thích: «tựu trung không gây được một âm vang đáng kể. Tuy nhiên mục tiêu của chúng tôi không phải là gặt hái ngay một kết quả cụ thể mà chỉ để thăm dò dư luận xem có ai chống đối quyết liệt không. Nếu không bị chống đối là một điều đáng mừng vì chẳng khác chi gieo hạt mà chẳng gặp gió bão, hạt đó sẽ nẩy mầm. Một khi nẩy mầm được rồi mới có hy vọng biến thành cây để càng ngày càng tăng trưởng.» (sđd, tr 686). Rồi đến năm 2007, lúc VN được bầu làm hội viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ, niềm hy vọng lại loé lên: «Tôi thấy thời cơ càng lúc càng thuận lợi cho sự chính thức hóa đường lối trung lập này. Sở dĩ tôi nói như vậy vì năm 2007, VN được bầu làm hội viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ. Đây là một cơ hội «bằng vàng» nếu VN muốn vận động để được hưởng quy chế trung lập giống như nước Áo.» (sđd, tr 688). Và Gs còn lưu ý: «Nên nhớ nhiệm kỳ của các hội viên không thường trực của Hội đồng bảo an chỉ có hai năm thôi, nếu nhà cầm quyền biết lợi dụng triệt để thời hạn đó để thực hiện mục tiêu vừa kể, quả thực là làm được một việc có ảnh hưởng lâu dài và ích lợi cho nhiều thế hệ mai sau.» (sđd, tr 691).

Gs còn chấp nhận (theo đề nghị của bà Bs Nguyễn Thị Thanh) tham gia một phái đoàn gồm các nhân vật (không thấy nêu rõ tên tuổi) có thể thương thuyết với Bộ chính trị đảng CSVN (không thấy nói là có sự thỏa thuận nào không?) với một niềm tin: «Nếu đề nghị của bà được những kẻ hữu quyền ở nước ta chấp nhận, bây giờ tôi coi đó là cơ hội để những người yêu nước góp phần vào công cuộc đổi đời trên đất nước.» (sđd, tr 694). Công cuộc vận động này hình như đến nay vẫn chưa động tĩnh gì.

Không phải lấy thành bại mà luận anh hùng, nhưng điểm qua bao biến cố thăng trầm, bao nhiêu lần bắt mạch thời cuộc và dấn thân, công của Gs đến nay thật chẳng khác nào công dã tràng xe cát.

            Với lòng yêu nước vô bờ, với tính kiên trì hiếm có, với niềm tin sắt đá, Gs đã không bỏ lở cơ hội nào, nhưng tiếc thay là các cơ sở tranh đấu không thể chỉ dựa vào chữ NẾU, không thể chỉ dựa vào niềm tin.

Thật vậy, có nhiều chuyện không mấy ai tin, nhưng Gs vẫn tin, như chuyện vượt biên của gia đình Gs, theo lời kể của Gs Nguyễn Như Cương: «Sau 30/4/75 thân hữu gần cận nhất của chúng tôi là gia đình Gs VQ Thúc, ở cách nhà tôi chừng 800 thước, thẳng đường TM Giảng nên những chiều rảnh rỗi tôi thường đến mạn đàm với Gs. … Trong số khách thuê phòng có một phụ nữ gốc Nam chừng trên 30 tuổi, thỉnh thoảng có tình nhân kín đáo đến thăm. Phụ nữ này hé với Gs tình nhân của thị là  cách mạng cao cấp, chính danh C.Đ.Ch., trùm bộ máy công an toàn miền Nam. Nghe Gs thuật lại, tôi khó tin vì bọn cao cấp CS bao giờ cũng có người kèm, vừa để bảo vệ, vừa để kiểm soát, làm sao có chuyện thuê phòng cho vợ bé để lén lút đến thăm. … Tuy vậy tôi cũng không nêu nhận xét của mình với Gs Thúc vì Ch. hay không phải Ch. đâu có dính dáng gì đến mình. Bẳng đi khoảng 2 tháng, một sáng Gs đến gặp tôi rất sớm, khẽ nói: «Thiếu phụ trên lầu sẽ giúp mình vượt biên an toàn nhờ CA của C.Đ.Ch. đưa xuống tận Vũng Tàu. …mình chỉ cần đưa trước cho họ người lớn mỗi người một tấm ảnh cùng tên tuổi, địa chỉ, đến ngày đi họ sẽ có xe nhỏ tới đón đến địa điểm tập trung để đưa ra ghe lớn. Chúng tôi nghe phải đưa ảnh, tên tuổi nên sợ quá, từ chối đề nghị của Gs. … cho đến một buổi chiều như thường lệ tôi đạp xe xuống Gs để mạn đàm, vào nhà gặp bà Thúc … đưa tay cản tôi, bảo đừng vào nữa, «nhà tôi »  (chỉ Gs) bị bắt giam rồi, còn tôi và bọn lũ nhỏ mới được tha sai khi khám nhà, tịch thu tài vật, … Khoảng một tuần sau, Gs được chúng trả tự do, tôi xuống mừng ông và được biết chuyện lừa gạt tàn độc: Chúng cho xe nhỏ đến đón gia đình ông đến địa điểm tập trung cùng với hành trang đã sắp sẵn nhưng địa điểm này là một nhà giam của CA» (Khơi giòng kỷ niệm -Hồi ký của Gs Nguyễn Như Cương, tr 367). Tình tiết tuy có phần khác với lời kể của chính Gs (sđd, tr 483), nhưng điều đó không quan trọng. Điều đáng lưu ý là đoạn đó làm nổi bật tính quá dễ tin của Gs. Mọi điều bất như ý phải chăng phần lớn đều bắt nguồn từ đó?



Lê Văn Tư

Ghi chú:

(1)    Thư điện tử gởi Gs Vũ Quốc Thúc của ông Lê Xuân Khoa.

(2)    Cuối bản Kiến nghị: Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2011 - Danh sách công dân ký tên vào bản kiến nghị …

(3)    Cuối thư ngỏ: Ngày 21 tháng 8 năm 2011 - Đồng ký tên

Không có nhận xét nào: