Bàn về cơn sốt Khổng tử: hôm qua chó nhà tang, hôm
nay chó gác cửa.
… “khi
không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường,
gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa”.
Lời giới
thiệu của người dịch
1. “Chó nhà
tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với
ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen,
và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.
Thoạt đọc,
bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu
Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí
thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho
nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.
2. Tên của
Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu
Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007 . Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc
vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được
trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc
lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội
tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho
Vladimir Putin, lãnh tụ Nga có khuynh hướng độc tài*.
3. Cơn sốt
Khổng Tử mà Lưu nói tới vẫn kéo dài đến nay. Viện Khổng Tử (gần như Viện
Goethe, Hội Đồng Anh…) công cụ của quyền lực mềm trong tay nhà cầm quyền Trung
Quốc, mở cơ sở đầu tiên năm 2004, đến nay đã có hơn 320 Học viện được thành lập
trên thế giới, trong đó 1/5 là ở Mỹ **.
4. Đọc bài
này, rất có thể người đọc sẽ nêu câu hỏi: Liệu có điểm gì giống nhau giữa Viện
Khổng Tử và Viện Trần Nhân Tông, Giải Khổng Tử và Giải Trần Nhân Tông được nhắc
tới gần đây với ít nhiều nghi ngại hay không.
5. Bản dịch
này dựa trên bản tiếng Anh, có tham khảo bản tiếng Trung. Bản tiếng Anh có tựa
“Yesterday’s Stray Dog Becomes Today’s Guard Dog” (Chó hoang hôm qua nay thành
chó giữ nhà) do Thomas E. Moran dịch, in trong cuốn No Enemies, No Hatred
(Không thù, không ghét) tuyển tập luận văn và thơ Lưu Hiểu Ba, do Perry Link,
Tienchi Martin-Liao và Lưu Hà biên tập, xuất bản năm 2012 tại Anh Quốc. Bản
tiếng Trung có tựa “昨日丧家狗 今日看门狗 – 透视当下中国的“孔子热”” (Tạc nhật táng gia cẩu, kim nhật
khán môn cẩu, thấu thị đương hạ Trung Quốc đích “Khổng Tử nhiệt”), xuất bản lần
đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.
Phan Trinh
![]() |
| Cảnh sinh hoạt của thầy trò Khổng Tử |
Người Trung Quốc hiện rất phấn khích vì nước nhà
đang trỗi dậy như một cường quốc. Nhờ kinh tế trỗi dậy nên văn hóa cũng trỗi
dậy, nhờ tung tiền khắp nơi nên “quyền lực mềm” cũng được xuất khẩu ra thế
giới. Trong nước, người người đua nhau chạy theo cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt
thờ Khổng, cơn sốt theo đạo Nho. Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài
Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) cũng khởi xướng cơn sốt đọc lại Luận
ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Trong khi đó ở ngoài nước, Trung Quốc
đầu tư lớn để mở hàng loạt các “Viện Khổng Tử” nhằm lan tỏa quyền lực mềm. Giấc
mơ bá chủ thiên hạ của Trung Quốc bị dồn nén hơn thế kỷ nay lại có cơ tái xuất
giang hồ. Đức Khổng Tử ở trong và ngoài nước bỗng kết thành một trận tuyến liên
hoàn. Cơn sốt Khổng Tử quả là càng lúc càng nóng.
Nhưng, đàng
sau cơn phấn khích của đám đông kia, tôi cho rằng không phải là ước muốn khôi
phục nền đạo đức cũ, mà là toan tính phục hồi truyền thống sùng bái thánh
Khổng, một phần không thể thiếu trong kế hoạch của nhà nước nhằm đẩy mạnh chủ
nghĩa dân tộc cực đoan.
Những năm sau
biến cố Thiên An Môn [1989], nhà nước một mặt chống lại các nỗ lực đòi hỏi tự
do, chống “diễn biến hòa bình”, một mặt lại thổi bùng tình cảm “yêu nước” cực
đoan. Chủ nghĩa yêu nước cực đoan này, rường cột cho ý thức hệ mới của nhà cầm
quyền Trung Quốc, kết hợp với chiến dịch quảng bá cho cái mà Đảng Cộng sản
Trung Quốc gọi là “Thời hoàng kim thịnh vượng” đã làm làn sóng dân tộc chủ
nghĩa dâng cao vô tội vạ. Không gì rõ hơn những dòng này ở cuối “Tế văn Vinh
danh Khổng Tử, nhân Liên hoan Văn hóa Khổng Tử Quốc tế 2005, tại Khúc Phụ,
Trung Quốc”. Tế văn viết những lời có cánh như sau: “Thời hoàng kim vừa đến,
nuôi giấc mơ đại đồng; Mừng gặp thời thịnh vượng, và cường quốc vinh quang”.
Thật là một bản song tấu rổn rảng điển hình khi chủ nghĩa dân tộc hòa vào ‘Phúc
âm’ của “Thời hoàng kim”.
Trong một năm
qua, việc cổ xúy văn hóa truyền thống trên chương trình Bách gia Giảng đường
của CCTV đã góp phần biến Khổng Tử thành một món hàng thời thượng, hoặc mượn
lời của Lỗ Tấn, thành “‘Mô-đen’ Khổng Tử”. (Điều tương tự từng rộ lên cách đây
vài năm khi Mao Trạch Đông cũng trở thành một thứ “mốt”.) Hiện sách vở đủ loại
về Khổng Tử đang hốt bạc cho các nhà xuất bản, các lớp quốc học và cổ văn cũng
mang lại món lợi lớn. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí mỗi người
26.000 nhân dân tệ, Đại học Phục Đán lấy mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa
học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí cao ngất ngưởng.
Chương trình
nói trên của CCTV cũng làm tên tuổi Vu Đan trở thành hiện tượng được cả nước
biết. Vu Đan rao bán, thay vì rao giảng Khổng Tử bằng một giọng điệu khéo léo,
kết hợp những câu chuyện cao đạo về người xưa với những kiến giải có độ sâu sắc
chỉ ngang với ca từ nhạc sến. Những suy luận võ đoán, những lý giải nông cạn
thường trực của bà về Khổng Tử có tác dụng như một thứ ma túy tinh thần giữa
cơn sốt phục hưng đạo Khổng trong văn hóa đại chúng. Cuốn Luận ngữ tâm đắc của
Vu Đan mang một thông điệp dễ dãi. Theo giải thích của Vu Đan thì Khổng Tử dạy
rằng ai ai cũng có thể sống thoải mái với tâm thế thực dụng, dù gặp gì đi nữa
cũng đừng phàn nàn, nếu biết thuận theo hoàn cảnh thì sẽ thích ứng dễ dàng và
sống đời hạnh phúc.
Trong khi cơn
sốt đọc Khổng Tử do Vu Đan khởi xướng đang ăn khách, thì giáo sư Đại học Bắc
Kinh, Lý Linh, xuất bản cuốn sách có tên Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ [1]. Bằng
nghiên cứu của riêng mình, giáo sư Lý đã trục xuất những điều vớ vẩn được nói
về Khổng Tử và trả ông về với hình ảnh nguyên thủy. Giáo sư Lý viết trong lời
mở đầu:
“Sách của tôi
là thành quả những ý tưởng của riêng tôi về Khổng Tử. Tôi không lặp lại những
gì người khác đã nói. Tôi cũng không quan tâm tới những gì Mạnh Tử, Vương An
Thạch [2], hoặc bất cứ học giả lớn nhỏ nào đã từng nói về Khổng Tử. Nếu điều gì
không có trong văn bản gốc, thì tôi sẽ gạt qua một bên… Nếu muốn biết đích thân
Khổng Tử nghĩ gì, hãy tìm đọc văn bản gốc… Tôi không viết để dự phần vào cuộc
tranh cãi của các trí thức, cũng không viết để thỏa mãn thị hiếu của đa số.”
Và giáo sư Lý
kết luận:
“Sau khi đọc
Luận ngữ, tôi thấy tốt nhất không nên đặt Khổng Tử lên bệ thờ, cũng không nên dìm
ông xuống bùn, mà chỉ nên nói rằng ông rất giống Don Quixote.”
Qua việc phản
đối nạn sùng bái thần thánh và khát khao truy tìm sự thật với thái độ không mị
dân, giáo sư Lý đã góp phần đả phá truyền thống thần thánh hóa Khổng Tử đã kéo
dài suốt hơn 2000 năm nay. Ông viết:
“Trong cuốn
sách này, tôi muốn giải thích cho độc giả rằng Khổng Tử thực ra không phải là
một vị thánh. Vị Khổng Tử mà các hoàng đế tôn sùng từ triều đại này qua triều
đại khác không phải là Khổng Tử thật, mà là một Khổng Tử “nhân tạo”. Khổng Tử
thật không phải là thánh, cũng chẳng phải vua, cũng không là “nội thánh ngoại
vương” [trong thánh, ngoài vua] gì cả… Khổng Tử chỉ là người, một người xuất
thân bình dân, luôn tin rằng kẻ sĩ cổ đại (những “quân tử” đúng nghĩa) đã định
ra chuẩn mực mà mọi người nên noi theo để đối nhân xử thế; một người yêu chuộng
những gì cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí; một người thầy tận tụy,
không mệt mỏi truyền đạt văn hóa người xưa và khích lệ học trò học tập kinh
sách cũ; một người không có chức, cũng không có quyền – chỉ có học vấn về đạo
đức – nhưng dám can ngăn kẻ cầm quyền; một người đi tứ xứ du thuyết, lao tâm
thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ người cải tà quy chính; một người
nhiệt tình, ước mơ khôi phục đường lối nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người
luôn bị giằng xé, hoang mang, nay đây mai đó, giống hành trạng của một con chó
vô chủ, lang bạt, không có nhà để về. Đó là Khổng Tử thật.”
Trong cách
nghiên cứu và lý giải Luận ngữ của mình, rõ ràng giáo sư Lý đã bỏ rất xa Vu Đan
nông cạn và bất cẩn. Quan trọng hơn, ông đồng cảm được với Khổng Tử, người trí
thức hơn 2000 năm trước. Ông cho biết chính Khổng Tử cũng tự nhận mình là con
chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Ông viết:
“Khổng Tử
tuyệt vọng với quê hương mình, cùng các môn sinh ông đi khắp nơi, làm việc với
chư hầu, nhưng cũng chẳng được gì. Cuối đời ông trở về quê hương, sống những
năm cuối đời với tâm trạng buồn bã. Trước khi ông qua đời, con trai và hai học
trò yêu của ông, Nhan Hồi và Tử Lộ (Trọng Do) cũng mất, ông khóc thương họ cạn
nước mắt. Tuy ông mất trong nhà mình, nhưng cũng có thể nói ông không hề có
nhà. Những giáo huấn của ông có thể đúng hoặc sai, nhưng dù đúng hay sai, đời
ông cũng phản ánh số phận của người trí thức Trung Quốc tiêu biểu.”
… nói rằng Khổng Tử thiếu “quê hương
tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó đây không
phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm quan. Mục
tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là con chó
nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú chó không
chủ kia đã trở thành chó gác cửa.
Việc giáo sư
Lý Linh đưa ra lời bình luận về con chó mất chủ giữa lúc cơn sốt Khổng Tử và
văn hóa truyền thống đang lên cao trào, giống như ném một tảng đá to xuống
nước: Nó tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ những tín đồ mới của đạo
Khổng. Giáo sư Lý bị đả kích cay độc, bị nguyền rủa, những kẻ bị xúc phạm đã
biến bức xúc của mình thành giận dữ. Giáo sư Lý bị tố là phao tin đồn nhảm, và
là một “phẫn thanh” [đọc trại sẽ thành 'thằng ăn cứt"], những người chưa
đọc sách của giáo sư Lý tự cho mình cái quyền gọi nó là “rác rưởi”. Tất cả
những eo xèo này chỉ vì ông dám gọi Khổng Tử là chó nhà tang vô chủ. Điều đó
cho thấy lòng sùng kính Khổng Tử của những nhà Nho mới đưa đã đưa Thánh Khổng
lên vị trí bất khả xâm phạm, không ai được đụng tới. May mắn là số nhà Nho mới
này không có quyền lực chính trị là bao. Nếu có quyền lực, chúng ta chắc đã
phải trở về thời đại mà (như Lâm Bưu nói về Mao Trạch Đông) “mỗi lời của ngài
đều là chân lý, mỗi chữ của ngài quý hơn ngàn vạn chữ của kẻ khác.”
Giáo sư Lý
Linh là một nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Ông viết: “Tôi xem Luận ngữ là
một chủ đề nghiên cứu lịch sử, chứ không phải sách thánh.” Khi ông gọi Khổng Tử
là chó nhà tang, ông nhắc ta nhớ rằng ở Trung Quốc thời Xuân Thu (770-476 trước
CN) tầng lớp trí thức đã phải sống trong bất an, cả trong sợ hãi, tài năng của
họ thường không được trọng dụng, và trong hoàn cảnh đó, một “kẻ có lý tưởng
nhưng không tìm được quê hương tinh thần của mình” thì chẳng khác gì con chó
nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Nhưng, theo tôi, giáo sư Lý nói rằng Khổng Tử thiếu
“quê hương tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó
đây không phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm
quan. Mục tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là
con chó nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú
chó không chủ kia đã trở thành chó gác cửa.
Một cảnh thầy đồ day học chữ của ‘thánh hiền’ ngày xưa ở VN
Cũng nên biết
là giáo sư Lý Linh không phải người đầu tiên gọi Khổng Tử là chó nhà tang.
Người xưa đã từng đánh giá ông như thế. Truyện Khổng Tử trong cuốn Sử ký của Tư
Mã Thiên (145?-86 trước CN) viết rằng, vào năm 40 tuổi, khi không đạt được gì,
Khổng Tử đã than rằng “Ta cùng đường rồi!” và rằng “Chẳng chỗ nào trong thiên
hạ dung được ta!” Cũng theo Sử ký, dân chúng thời Khổng Tử đã tả rằng nhìn ông
“băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang”. Khi đệ tử kể lại cho Khổng Tử
nghe lời nhận xét này về mình, ông đã bảo rằng nói như thế là đúng làm sao, đúng làm sao![4] Ngày
nay, những kẻ “bảo vệ Đạo lý đích thực” thì cho rằng những lời nói kia của
Khổng Tử là những lời tinh tế có ý nghĩa lớn lao về thuật trị quốc và dạy
người. Họ bảo Lý Linh gọi Khổng Tử là chó nhà tang như vậy là phạm thượng, phản
bội, vô đạo và cuốn sách đó chỉ đáng vứt vào sọt rác. Có bạn ‘phẫn Nho’ còn cho
rằng giáo sư Lý “mắc bệnh thần kinh!”
Người tôn thờ
Khổng Tử có thể nguyền rủa sách của giáo sư Lý đủ kiểu, nhưng thực ra những gì
ông viết về Khổng Tử, nhất là trong lời mở đầu rất thẳng thắn và thu hút, đã
vượt xa những gì mà Tương Khánh và những “nhà tư tưởng mới” về Khổng Tử rêu
rao. Rất nhiều học giả nổi tiếng đã đánh giá cao cuốn Chó nhà tang của giáo sư
Lý.
Trong bài
viết có tên “Tính khả thi của Nhân, Nghĩa – Điểm sách Chó nhà tang của Lý
Linh”, sử gia Ngô Tư viết: “Giáo sư Lý đã làm rất tốt. Các dự án văn hóa sau
này cũng phải được xây dựng trên những văn bản gốc cốt lõi. Theo tôi, những
phát hiện của Lý Linh trong cuốn sách nói về Luận ngữ của ông còn hay hơn những
gì Chu Hy (1130-1200) nói về Khổng Tử.”
![]() |
| Khổng Tử làm quan của Vua |
Trong một bài
điểm sách tương tự, giáo sư Tiên Lý Quần của Khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh
viết: “Cách giáo sư Lý Linh đọc Luận ngữ cho thấy một điểm rất lớn đó là sự
đồng cảm chân thật, ‘từ trái tim đến trái tim’ với Khổng Tử, sự đồng cảm của
một trí thức với một trí thức. Sự đồng cảm này giúp ông nhìn thấy vấn đề được
gói ghém trong hình tượng ‘chó nhà tang’ kia là gì. Khi tôi đọc cụm từ ‘chó nhà
tang’ tôi cũng thấy có ít nhiều nhạo báng, nhưng quan trọng hơn, tôi cảm được
sự trăn trở và nỗi buồn đau của Khổng Tử.”
Trong một
cuộc phỏng vấn, ông Lưu Mộng Khê, giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc,
thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, đã khen ngợi công phu nghiên cứu
văn bản rất có trách nhiệm và cách làm việc nghiêm túc của giáo sư Lý Linh, góp
phần giải độc những huyền thoại về Khổng Tử.
Giáo sư Tần
Hy tại Đại học Thanh Hoa, trong bài “Làm thế nào Luận ngữ trở thành kinh điển?”
đã viết rằng: “Hiện có những kẻ tìm cách nâng Luận ngữ lên thành một thứ Thánh
Kinh của đạo Khổng, điều này cũng y như trước đây có kẻ muốn nâng cuốn sách nhỏ
mỏng tang có tên Mao tuyển lên thành ‘đỉnh cao’ của chủ nghĩa Mác. Thử hỏi sự
phấn khích với Mao tuyển đã làm phong phú chủ nghĩa Mác hay đã phá thối nó?
Cũng vậy, sự phấn khích dành cho Luận ngữ hôm nay sẽ tôn vinh đạo Khổng hay chỉ
làm hỏng nó?”
Trung Quốc
vốn có truyền thống sùng thánh lâu đời, và trong mắt những người sùng bái thánh
hiền xưa hoặc nay thì Khổng Tử nằm ngoài tầm tra vấn; ông là một vị vua không
ngai đáng kính, là người nắm giữ chân lý, là quân sư của các thời đại, ông được
tặng danh hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” (“Vị vua và vị thánh tuyệt
hảo của văn hóa”, danh hiệu được gán cho ông vào thế kỷ thứ 14) và với danh
hiệu ấy, các vị hoàng đế đứng trước ông cũng phải cúi đầu. Đối với Khang Hữu Vy
(1858-1927) và Hội Khổng học của mình, Khổng Tử là giáo chủ của một tôn giáo và
cũng là một vị thánh; còn đối với những nhà Khổng học ngày nay thì ông là biểu
tượng cho văn hóa Trung Quốc. Với họ, mỗi câu trong Luận ngữ đều là những lời
giáo huấn thấu tình đạt lý về nghệ thuật trị quốc và tu thân. Nếu thời xưa, lời
xưng tụng to tát nhất dành cho Luận ngữ là câu “Chỉ dùng nửa bộ Luận ngữ cũng có
thể trị cả thiên hạ”, thì câu tán dương thời nay lại là câu “Giáo huấn của
Khổng Tử đã quản thiên hạ 5000 năm trước, nay sẵn sàng để quản thiên hạ 5000
năm sau.” Có kẻ còn nói “Không đọc Khổng Tử không phải là người!” Ngày nay, có
những “tín đồ đạo Khổng mới” lại còn ngụy tạo ra những tin tức giật gân, chẳng
hạn như chuyện râm ran gần đây, rằng vào năm 1988, 75 người đoạt giải Nobel
toàn thế giới đã họp nhau tại Paris để bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại
nhất trong lịch sử loài người! [5]
Trước cơn ‘tẩu
hỏa nhập ma’ vì sùng bái thánh nhân này, tôi xin hỏi các nhà Nho tân thời một
câu tầm phào sau: “Trong con mắt các vị thì Khổng Tử đương nhiên là thánh rồi,
thế nhưng, ngài cũng chỉ là người, vậy ngài có đánh rắm phun hương không?!”
Sự sùng bái
kia khiến người ta mất khả năng phân biệt đâu là người đâu là thánh, đâu là lời
nói đời thường đâu là lời phán của trời. Họ gán cho những lời dạy thông thường
trong Luận ngữ những ý nghĩa thâm thúy, cao siêu. Chẳng hạn như hai câu mở đầu
của Luận ngữ “Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ? Hữu bằng tự viễn phương
lai, bất diệc lạc hồ?” (Học mà mỗi buổi mỗi tập, chẳng cũng thích ư? Có bạn ở
xa nghe tiếng mà tìm lại, chằng cũng vui ư?)[6] Thử hỏi sự thâm thúy cao siêu
trong câu này nằm ở đâu mà thiên hạ phải khổ công chú giải suốt suốt 2000 năm
qua cho đến tận bây giờ?
Chu Tố Nhân
(1885-1967) trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã nói đúng: “Luận ngữ chỉ cách tu tập
để thành người tốt và cách ứng xử với đời… Đó có thể là một cẩm nang hữu ích
cho hậu thế, nhưng dứt khoát không được xem đó là những chân lý không bao giờ
thay đổi hoặc những chuẩn mực đạo đức. Càng không nên nghĩ rằng nó chứa đựng
những triết lý chính trị sâu sắc có thể trị quốc và mang lại hòa bình cho thiên
hạ.” Ngay G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức, cũng chỉ xem Luận ngữ như một
cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức, không hơn không kém.
Chính Hán Vũ
Đế (156-87 trước CN) người ra quyết định “độc tôn Nho thuật” đã hóa phép cho
Khổng Khâu trở thành đức Khổng Phu Tử. Con chó nhà tang chết còn bộ xương, nay
bộ xương bỗng chốc phục sinh và trở thành con chó gác cửa cho các triều đại
quân chủ chuyên chế Trung Hoa.
Vì đạo Nho tỏ
ra có ích cho quyền thống trị của vua chúa chuyên chế, nên địa vị của con chó
giữ cửa được chăm sóc, củng cố, một khi ngồi vào chỗ rồi là nó cứ ngồi đó suốt
hai ngàn năm. Và khi thần tượng của giới có học được triều đình thổi lên đến
tận trời xanh, thậm chí biến thành tượng thờ giát vàng trong tổ miếu hoàng gia,
thì đó là lúc trí thức Trung Hoa có tư tưởng tiến bộ bị đầy xuống địa ngục,
biến thành nữ tì phục vụ quyền lực. Một trường hợp điển hình là Tư Mã Đàm
(165-110 trước CN) cha của Tư Mã Thiên. Hai cha con đều phục vụ triều đình nhà
Hán trong tư cách những thái sử. Khi Tư Mã Thiên vì dám can ngăn Hán Vũ Đế mà
bị xử thiến, ông đã bi phẫn than rằng:
Cha ta cũng
chẳng đạt được gì đáng ghi tên vào sổ sách triều đình. “Nghề viết văn, viết sử,
xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa
bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường.”[7]
Đến thế kỷ 19
và đầu thế kỷ 20, khi các cường quốc Tây phương ép Trung Quốc mở cửa cho thế
giới thì hệ thống quyền lực và ý thức hệ cũ lập tức suy vong nhanh chóng. Năm
1911, khi Cách mạng Tân Hợi kết liễu đế chế truyền thống thì Đạo Khổng, hệ ý
thức của vua chúa độc tài, cũng mất hẳn chỗ dựa. Một lần nữa, “chó giữ cửa” lại
trở thành “chó nhà tang” lang thang xó chợ. Mặc dù Viên Thế Khải (1859-1916) đã
xoay sở để trở thành hoàng đế vào tháng 1 năm 1916 và cố phục hồi nghi lễ Đạo
Khổng, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Chỉ sáu tháng sau, Viên Thế Khải chết. Sự
sụp đổ toàn diện của những định chế truyền thống và ý thức hệ cũ đã diễn ra,
không thể nào tránh khỏi.
Theo tôi, khi
các nhà Nho truyền thống mất chỗ dựa quyền lực thì đó là nỗi bất hạnh của họ,
con chó gác cửa cung đình lại trở thành con chó lang bạt. Nhưng, nếu nhìn cách
khác thì đây lại là một vận may lớn, là cơ hội để giới có học ở Trung Quốc có
thể trở thành người trí thức hiện đại, có thể vứt bỏ những bệ đỡ của quyền lực
độc tài mà họ vẫn dựa vào, có thể nuôi dưỡng và phát huy tinh thần phê phán độc
lập. Cơ hội đã đến dù họ muốn hay không.
Nhưng rủi
thay, thời kỳ “chó lang” bất đắc dĩ này chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Khi Cộng sản
Trung Quốc thiết lập chế độ cực quyền trên toàn quốc thì người trí thức cũng
chẳng còn được thoải mái làm chó hoang nữa. Phần lớn bị đàn áp, truy đánh, dập
dụa như “bầy chó mắc mưa”, một số gặp thời biến thành “chó giữ cửa” cho chính
quyền Mao Trạch Đông. Quách Mạt Nhược (1892-1978) là một ví dụ điển hình, trong
thời kỳ dân quốc ông còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch, nhưng sau năm 1949 thì
ông chẳng khác nào con sâu nhũn gọi dạ bảo vâng trong tay Mao Trạch Đông.
Số phận của
Khổng Tử trong thế kỷ 20 có lẽ sẽ khiến chính Khổng Tử choáng váng. Hai lần ông
trở thành mục tiêu của những cuộc vận động chính trị chống lại mình. Lần đầu là
trong phong trào Ngũ Tứ Vận động khởi đầu năm 1919, và lần kế tiếp là trong
phong trào “phê Lâm [Bưu], phê Khổng [Tử]” do Mao Trạch Đông phát động năm
1974. Những năm sau vụ Thiên An Môn [1989], giới trí thức có khuynh hướng chống
lại những gì được cho là cấp tiến, và họ xem cả hai phong trào Ngũ Tứ Vận động
lẫn Phê Lâm Phê Khổng của Mao Trạch Đông là như nhau và bác bỏ cả hai. Nhưng
làm như thế là họ không thấy hai cuộc vận động đánh đổ nhà Khổng này thực ra hoàn
toàn khác nhau.
Trước hết,
hai cuộc vận động có điểm xuất phát khác nhau. Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa
tự phát từ dưới lên. Người tham gia chủ yếu là những trí thức đô thị đã hấp thu
tư tưởng mới, giá trị mới, và phương pháp mới du nhập từ phương Tây, và họ dùng
những chuẩn mực phương Tây để hiểu vì sao Trung Quốc lạc hậu. Họ bất mãn với
quan điểm vào cuối thế kỷ 19 cho rằng việc bắt kịp phương Tây chỉ là vấn đề kỹ
thuật, hay thay đổi hình thức chế độ. Họ đi đến kết luận rằng thay đổi cốt lõi
phải là thay đổi văn hóa. Ngược lại, phong trào “phê Lâm, phê Khổng” vào năm
1974 là một màn vận động chính trị từ trên xuống của Mao Trạch Đông, kẻ có
quyền lực tuyệt đối và muốn đưa Tư tưởng Mao lên vị trí độc tôn và không tư
tưởng nào khác trong hay ngoài nước được phép có mặt.
Thứ hai, tính
chất của hai cuộc vận động này cũng khác hẳn nhau. Đối tượng mà các trí thức
cách tân của Ngũ Tứ Vận động chống đối không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần,
lúc trăm nhà đua tiếng vào thế kỷ thứ năm trước CN, mà là Đức Thánh Khổng của
Hán Vũ Đế, người đã đưa đạo Khổng lên vị trí độc tôn. Họ muốn đánh đổ sự độc
quyền tư tưởng của đạo Khổng, của con “chó gác cửa”. Ngược lại, chiến dịch của
Mao Trạch Đông chống lại Khổng Tử không liên quan gì đến nỗ lực cải tổ văn hóa,
và cũng chẳng liên quan gì đến Khổng Tử. Cuộc vận động chỉ là công cụ giúp Mao
cạnh tranh quyền lực với nhóm chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mục tiêu
cuối cùng của Mao là hạ bệ Lâm Bưu và cảnh cáo nhà “đại nho” Chu Ân Lai.
Nói cách
khác, hai cuộc vận động chống Khổng Tử có bản chất khác nhau. Một bên là những
nhà trí thức không quyền lực một bên là kẻ nắm quyền lực tuyệt đối chẳng khác
gì một Tần Thủy Hoàng kiểu mới. Một bên là cuộc cách mạng văn hóa tự phát từ
dưới lên, một bên là cuộc vận động chính trị từ trên xuống. Một bên cố tìm lối
thoát cho văn hóa Trung Quốc, một bên chỉ mong củng cố quyền lực độc tôn.
Đó là lý do
đến nay tôi vẫn tán đồng nỗ lực chống ảnh hưởng của Đạo Khổng như Ngũ Tứ Vận
động chủ trương, và tiếp tục chống đối cuộc vận động chống Đạo Khổng của thời
kỳ Cách mạng Văn hóa.
Trong luận
văn viết năm 1935 “Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại”, khi Lỗ Tấn gọi Khổng
Tử là thánh nhân “mô-đen” là ông có ý phê phán truyền thống tôn sùng thánh nhân
của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Ông viết: “Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ,
thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc
này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường.”
Theo tôi thì
tệ sùng bái thánh nhân ở Trung Quốc là một công trình văn hóa giả tạo cực lớn
do các đời vua chúa cùng bọn văn nhân cung đình phối hợp tạo nên. Vị Khổng Tử
mà các vua chúa và quần thần “phong thánh” đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên
quan với vị Khổng Tử đích thực, và đáng được xem như một món hàng giả vô cùng
nguy hiểm.
Thực ra, nếu
đọc kỹ các triết gia Tiên Tần, sẽ không khó nhận ra rằng tư tưởng của Khổng Tử
cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường. So với Trang Tử (369-286
trước CN), Khổng Tử không có cái siêu thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, cũng không có
trí tưởng tưởng đẹp đẽ kỳ vĩ, hoặc ngôn ngữ trôi chảy bất tận, cũng không có
khả năng hòa quyện tri thức triết học với vẻ đẹp văn học thoát tục, hoặc tỉnh
táo mà nhìn thấu đáo bi kịch của con người. So với Mạnh Tử (372-289 trước CN),
Khổng Tử không có được cái khí phách của một trang nam tử, hoặc tầm nhìn rộng
lớn, đó là chưa kể đến khả năng đối diện với quyền lực với thái độ đầy tự
trọng, hoặc sự quan tâm thật lòng tới dân đen. Chính Mạnh Tử là người đã nói
“dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. So với Hàn Phi Tử (281-233
trước CN), Khổng Tử còn có vẻ hư ngụy, giả dối, không thẳng thắn, thiếu sắc
bén, cũng không có khả năng châm biếm tài hoa. So với Mặc Tử (470-391 trước CN)
Khổng Tử không lấy bình đẳng làm lý tưởng và tính thiện tự nhiên, đạo đức tự
giác làm nền tảng cho một chủ nghĩa mới như chủ nghĩa kiêm ái, cũng không có
một hệ thống lý luận cụ thể rõ ràng nào.
Ngược lại,
những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí
tuệ lớn. Những chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm
mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn
khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở
thành thày dạy đạo đức. Danh hiệu vị thầy chăm chỉ, và “dậy người không mệt mỏi”
dành cho ông thực ra cũng chỉ phản ảnh ước muốn viển vông xuất phát từ một nhân
cách nông cạn. Nguyên tắc nổi danh của ông “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc
ẩn” (thời thịnh trị thì dấn thân, thời loạn lạc thì ở ẩn), nếu nhìn kĩ sẽ thấy
đó chính là cái đạo xử thế khôn lanh, thể hiện tính vô trách nhiệm và cơ hội
chủ nghĩa. Thật hoài phí và tổn hại cho dân tộc Trung Hoa biết bao khi chính
nhà tư tưởng này, nhà tư tưởng thực dụng hết mực, khôn lanh hết mực, và đời
thường hết mực này, đức Khổng Tử, kẻ tránh né trách nhiệm xã hội và không biết
cảm thông với đồng bào thọ nạn này, đã trở thành vị thánh và là mẫu mực cho họ
noi theo. Dân tộc nào thì thánh nhân nấy, và thánh nhân nào thì dân tộc nấy.
Tôi e rằng toàn bộ tính nô lệ trong lòng người dân Trung Quốc bắt nguồn từ đây,
một thứ siêu di truyền văn hóa kéo dài từ xưa và tiếp tục đến ngày nay.
Ngoài việc
truy tìm ý nghĩa đích thực của Luận ngữ, giáo sư Lý Linh còn muốn nhắm tới chủ
nghĩa dân tộc cực đoan hiện nay của Trung Quốc. Giáo sư Lý thách thức những trào
lưu thời thượng như cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng Tử, và gián tiếp đặt
vấn đề về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Việc Lý Linh ám chỉ
Khổng Tử như con chó lang thang “không một quê hương tinh thần” cũng là để phê
phán các nhà Nho mới đang ra sức cổ vũ cho Khổng Tử như vị cứu tinh của thế
giới. Giáo sư Lý cho rằng: “Tôi chẳng hứng thú gì khi người ta cắm ngọn cờ
Khổng Tử trên toàn thế giới. Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc, cũng chẳng thể
cứu thế giới.”
Mục tiêu thứ
hai mà Lý Linh nhắm tới là truyền thống phò quyền lực của giới trí thức Trung
Quốc. Lời chỉ trích này rất thức thời vì giới Nho gia mới hiện đang tranh thủ
lấy lòng giới cầm quyền. Họ độc tôn đạo Khổng, hô hào cho đạo Khổng, không phải
vì muốn dùng đạo Khổng phục hồi đạo đức nước nhà, mà là họ chú trọng đến công
năng chính trị “tu, tề, trị, bình” của đạo Khổng, họ muốn thống nhất chính trị
và tôn giáo. Họ muốn Khổng Tử trở thành “quân sư” hoặc giữ địa vị “quốc
sư”. Họ muốn Nho giáo trở thành “quốc giáo”, và họ muốn nhà cầm quyền luật hóa
các mục tiêu này. Khi làm việc này, rõ ràng những nhà Nho mới đang cho thấy
tham vọng trở thành “quân sư” cho các đế vương hiện đại – hoặc trở thành một
dạng “vua triết gia” theo kiểu Plato, thực sự nắm quyền lực trong tay. Khi tân
trang hình ảnh cho Khổng Tử, họ thực ra đưa Trung Quốc ngược trở lại với thời
Hán Vũ Đế. Họ muốn tái lập thời đại mà trong đó tư tưởng đa dạng của cả trăm
nhà đều bị bãi bỏ, để độc tôn duy nhất đạo Khổng, họ muốn phục hồi tệ sùng bái
“thần thánh” truyền thống.
Giáo sư Lý
Linh nhận ra rằng trong lịch sử Trung Quốc, giới trí thức, vốn mang trong đầu
rất nhiều điều không tưởng, chỉ thực sự hữu dụng khi nằm ngoài quyền lực và giữ
vai trò phê phán nhà cầm quyền. Khi có quyền lực trong tay họ sẽ trở nên nguy
hiểm, thậm chí thảm họa, cho quốc gia. Giáo sư Lý viết: “Giới trí thức, với mắt
bén, đầu sáng, có thể trở nên độc tài hơn bất cứ ai. Đặt gươm đao phủ vào tay
họ, thì kẻ đầu tiên mất mạng sẽ chính là những trí thức khác.” Điều này xảy ra
vì thói quen của giới trí thức Trung Quốc tự cho rằng mình có trí tuệ tối ưu,
đạo đức tối ưu, lí tưởng tối ưu, và sự hiểu biết tối ưu, cao hơn bất cứ ai. Họ
tự cho mình cái quyền “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi
người”, và tin rằng họ còn có thế cứu vớt mọi người thoát vòng tai ương và kiến
tạo thiên đường trên mặt đất. Trương Tải (1020-1077 trước CN) đời nhà Tống tóm
tắt mục tiêu của người trí thức Trung Quốc trong bốn câu sau đây: “Vì trời đất
lập đạo, vì dân sinh lập mệnh, vì thánh nhân xưa mà truyền thụ giáo huấn, vì
muôn đời mà mang lại thái bình.” Ngày nay nhiều trí thức Trung Quốc vẫn mang
não trạng này, cho thấy truyền thống tự mãn và cuồng vọng của trí thức Trung
Quốc đã trở nên thâm căn cố đế, khó thay đổi.
Giáo sư Lý
Linh muốn kêu gọi giới trí thức Trung Quốc hôm nay học lại bài học lịch sử,
biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ mộng trở thành quân sư, chấm dứt
việc biến kinh sách truyền thống thành công cụ chính trị, phải giữ tính độc lập
trong tri thức, tư tưởng, học thuật, phát huy tinh thần sáng tạo của người trí
thức. Ở đoạn cuối lời giới thiệu sách, giáo sư Lý viết:
“Hãy bình tâm
mà đọc Luận ngữ, đừng chính trị hóa, đạo đức hóa, giáo phái hóa Luận ngữ. Mục
tiêu duy nhất là tìm cho được con người Khổng Tử thật, giữa một thời đại mà,
mượn chính lời Khổng Tử, lễ nhạc đã suy đồi.”
Nếu giới trí
thức Trung Quốc bỏ qua lời khuyên này, số mệnh của họ sẽ chẳng khác gì những kẻ
đi trước, sẽ chỉ là những con chó chạy quẩn quanh phục vụ kẻ khác, đến khi
không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường,
gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa.
Theo tôi, đại
bi kịch của lịch sử văn hóa Trung Quốc không phải là việc Tần Thủy Hoàng
(259-210 trước CN) “đốt sách chôn nho”, mà chính là việc Hán Vũ Đế “bãi truất
trăm nhà, độc tôn đạo Nho”. Từ chủ trương này, Đổng Trọng Thư (175-105 trước
CN) đã sửa đổi học thuyết của Khổng Tử, biến những đế chế vốn dĩ được thiết lập
dựa trên bạo lực trở thành biểu hiện của đạo trời. Nguyên lý của Đổng Trọng
Thư, ghi trong cuốn Lịch sử Tiền Hán, cho rằng “trời không đổi gì thì không gì
phải đổi” (“thiên bất biến đạo diệc bất biến”) là căn cứ để khẳng định tính hợp
pháp của chế độ, rằng sự trường tồn của các triều đại là việc đã được vũ trụ an
bài. Lập luận này khoác lên mình chế độ bạo lực toàn trị một lớp áo nhân trị êm
ái. Đương nhiên các đế vương thấy ngay tác dụng của lớp áo ngoài này, nên đã
tiếp tục lập đạo Khổng thành một ý thức hệ chính thống độc tôn và trở thành con
đường chính thức để kẻ có học lập thân, có nghĩa là trở thành “đầy tớ ngoan
ngoãn” cho kẻ cầm quyền. Chính Mao Trạch Đông cũng định vị thân phận của giới
trí thức rất rõ ràng khi dùng câu nói “da [kẻ cầm quyền] không còn, thì
lông [trí thức] bám vào đâu?”
Trách nhiệm
lớn nhất của giới trí thức Trung Quốc hôm nay không phải là bảo vệ truyền thống
sùng thánh mà quyền lực độc tài chủ xướng, mà là thoát khỏi sự lệ thuộc và vị
thế phục dịch cho quyền lực độc tài kia. Chúng ta cần kế thừa và phát huy
truyền thống Ngũ Tứ, mà giáo sư Trần Dần Khác (1899-1969) đã tóm tắt bằng câu
“tư tưởng tự do, nhân cách độc lập”.
ÿ Lưu Hiểu Ba (Giải Nobel 2010)
Bắc Kinh, 18/8/2007
Phan
Trinh dịch
Xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.
Ghi chú
của người dịch:
* “Giải Khổng Tử công bố danh sách đề cử”, BBC Việt ngữ 10/9/2012
** Xem “Khổng giáo, công cụ của quyền lực mềm“:Con số 320 Viện Khổng Tử
được The Economist nhắc tới vào đầu năm 2011, trong khi ký giả Carrie Gracie
của BBC gần đây lại nói có tới con số gần 1.000, đây là con số đáng ngờ, vì
ngay cả phía Trung Quốc cũng chỉ dự định đạt được con số 1.000 Viện Khổng Tử
vào năm 2020. Hình ảnh minh họa cho bài của Carrie Gracie cũng không chính xác
vì bức tượng Khổng Tử tuy được khánh thành long trọng tại Thiên An Môn vào
tháng 1/2011, nhưng đến tháng 4/2011 thì bức tượng cao 9 mét này đã được âm
thầm dời đi trong đêm. Nghe nói tượng hiện được đặt trong vườn tượng thuộc Viện
Bảo tàng Quốc gia. Nguồn các thông tin này xem tại: The Economist, 20/1/2011 , BBC Việt ngữ 10/10/2012 , Tân Hoa Xã (tiếng Anh), 10/2/2006 .
₪ ₪ ₪
[1] Táng Gia cẩu: Ngã độc Luận
ngữ 丧家狗:我读《论语》, Lý Linh, NXB Nhân
Dân Sơn Tây, Trung Quốc, 2007
[2] Trong nguyên bản, Lưu Hiểu Ba dùng cụm từ “nhị thánh nhân, tam thánh
nhân” để chỉ hai vị, dịch giả T. E. Moran nêu danh tính hai vị là Mạnh Tử và
Vương An Thạch để độc giả phương Tây dễ hiểu. Ở nhiều đoạn khác, T. E. Morgan
cũng ghi thêm ngày sinh, ngày mất bên cạnh tên tác giả để độc giả phương Tây dễ
tham khảo.
[3] Quan điểm chỉ dùng Luận ngữ để tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử cũng là
quan điểm của học giả Nguyễn Hiến Lê, vì có chứng cớ xác thực cho thấy Khổng Tử
là người viết ra Luận ngữ, trong khi các tác phẩm khác lại không phải. Nguyễn
Hiến Lê viết: “Từ xưa tới nay hầu hết các học giả viết về học thuyết Khổng tử
đều dùng cả tứ thư lẫn Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng Tử Gia ngữ v.v… làm
tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng
giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộ Luận
ngữ là bộ đáng tin nhất, còn thì bộ nào cũng chứa nhiều tư tưởng của người sau,
không phải của Khổng Tử.
Tôi lấy thí dụ cuốn Đại học của
Tăng Tử (một môn sinh được trực truyền) ngay trong đoạn đầu nói về việc tu thân
để tề gia, trị quốc…, cũng đã có một ý tôi cho không phải của Khổng tử mà của
Tăng Tử, tức “tri tri tại cách vật”, vì trong Luận ngữ ông không hề nói tới sự
cách vật.
Sách Trung dung của Tử Tư, cháu
nội Khổng Tử, cũng có những tư tưởng siêu hình, mà Khổng tử tránh phần siêu
hình.
Rồi những câu “cương nhu tương
thôi nhi sinh biến hóa”, “nhất hạp nhất tịch vi chi biến, vãng lai bất cùng vi
chi đạo” (trong Kinh Dịch – Hệ từ thượng) mà nhiều người dẫn (chẳng hạn Trần
Trọng Kim trong Nho giáo) và cho là quan niệm về thiên lý, về đạo của Khổng Tử,
thì sao tôi thấy có màu sắc của Lão giáo quá.
Ngay như Lễ kí, thiên Tăng Tử
Vấn (Tiểu Đái kí) phần lớn không tin được vì xuất hiện sau Khổng Tử bảy trăm
năm (thế kỷ II sau Tây Lịch) và do người đời Hán viết.
Căn cứ vào những bộ đó thì
không khác gì tô xanh tô đỏ lên học thuyết của Khổng Tử, còn đâu chân diện mục
của nó nữa. Từ lâu tôi vẫn bất mãn về điều đó và chỉ thấy mỗi một học giả ở
Pháp, ông Etiemble, trong cuốn Confucius (Gallimard 1966) là không dùng phương
pháp đó mà chỉ căn cứ vào mỗi hệ Luận ngữ mà thôi.”
(Trích từ Lời nói đầu, Nguyễn
Hiến Lê viết ngày 1/7/1978, in trong cuốn Khổng Tử, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1992,
trang 7-8).
[4] Đoạn nói về “chó nhà tang” được Tư Mã Thiên ghi trong
Sử ký như sau:
“Khổng Tử đến nước Trịnh, thày
trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa thành. Có người nước Trịnh
bảo Tử Cống:
- Ở cửa phía đông có một người
trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở
xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang.
Tử Cống nói thực với Khổng Tử.
Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng:
- Hình dáng bên ngoài là việc
vụn vặt, nhưng nói “giống như con chó của nhà có tang” thì đúng làm sao! Đúng
làm sao!”
(Trích Sử ký – Tư Mã Thiên,
Phan Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây,
Hà Nội, 1999, trang 163-164)
[5] Trong cuốn Khổng Tử – Luận ngữ với cuộc sống hiện
đại, do Dương Minh Hào sưu tầm và biên dịch, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2012, phần
Lời mở đầu của Dương Minh Hào cũng ghi một “tin giật gân” tương tự, xin trích
nguyên văn:
“Năm 1991 trong tuyên ngôn đại
hội những người nhận giải thưởng Nôben toàn cầu tại có câu: ‘Nếu nhân loại muốn
được tiếp tục sinh tồn ở thế kỷ 21, thì cần phải trở lại hơn hai ngàn năm trăm
năm trước để hấp thu lấy những trí tuệ cũa Khổng Tử.’
Các nhà khoa học trên toàn thế
giới đều đã nhất trí cao với nhận thức này.”
[6] Trích Luận ngữ, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới
thiệu, NXB Văn Học, năm 1994, trang 25.
[7] Trích từ Sử ký – Tư Mã Thiên, bản dịch của Phan Ngọc,
sđd, trang 5-6.
Bản tiếng Việt ©
2012 Phan Trinh & pro&contra




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét