Một nghị quyết
quan trọng của đảng đã được thực hiện như thế nào?
Hội nghị BCHTW 4 khoá X, diễn ra từ ngày 15/1 đến ngày
21/1/2007, đã đi đến quyết nghị một nội dung quan
trọng là chuyển các
doanh nghiệp làm kinh tế đơn thuần hiện có thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ
trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội sang các cơ quan nhà
nước quản lý từ năm 2007.
Bản thân nguyên TBT Lê Khả Phiêu cũng bình luận về
chủ trương này khi trao đổi với báo chí: “Quyết sách này sẽ góp phần tạo
ra một môi trường kinh doanh tốt hơn. Có như vậy thì cơ chế thị trường mới có
thể phát huy tác dụng, và sự cạnh tranh lành mạnh mới có thể xảy ra. Người ta
không thể cạnh tranh bình đẳng và trung thực nếu như mỗi người ở một vị thế rất
khác nhau. Ngoài ra, điều này cũng sẽ bảo đảm minh bạch cho cả hệ thống theo
nguyên tắc: đã kinh doanh thì phải tuân thủ các chuẩn mực như nhau”
và “Phải làm từng bước, làm có lộ trình, song dứt khoát năm 2007 phải làm
những khâu cơ bản.”
Minh định chức năng của các thiết
chế xã hội:
Chuyển các doanh nghiệp làm kinh
tế đơn thuần hiện có thuộc các cơ quan Đảng, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội sang các cơ quan nhà nước quản lý sẽ
tạo điều kiện cho việc minh định chức năng của các thiết chế xã hội.
Các thiết chế xã hội và công
quyền khác nhau được sinh ra là để thực hiện các chức năng khác nhau.
Ví dụ, quân đội được sinh ra để
bảo vệ Tổ quốc, để chống giặc ngoại xâm; công an được sinh ra để bảo đảm an
ninh và trật tự... Nếu bắt các cơ quan này cũng phải quản lý về kinh tế thì sẽ
có sự lẫn lộn về chức năng…
Lý luận thì thế, nghị quyết của
BCHTW đảng thì thế, nhận thức và quyết tâm của nguyên lãnh đạo đảng thì thế,
song dường như việc thực hiện nghị quyết thế nào lại vẫn là một câu chuyện dài
nhiều tập với “truyền thống” “đầu voi đuôi chuột” hay “nói một đàng, làm một
nẻo”:
Kể từ khi Nghị quyết 4 khoá X ra
đời cho đến nay, hầu như chưa có doanh nghiệp nào thuộc các cơ quan Đảng, lực
lượng vũ trang, MTTQ và các đoàn thể được chuyển giao cho các cơ quan nhà nước
quản lý. Không những thế, một thực tế hoàn toàn trái ngược lại đang diễn ra
trong quân đội – các doanh nghiệp quân đội vẫn không ngừng phình ra về cả về
quy mô lẫn số lượng:
- Công ty Xăng dầu Quân
đội trở thành Tổng Cty Xăng dầu Quân đội theo Quyết định
223/2008/QĐ-BQP ngày 31/12/2008 của Bộ QP;
- Công ty 28 trở
thành Tổng Cty 28 theo Quyết định 225/2008/QĐ-BQP ngày
31/12/2008 của Bộ QP;
- Tổng Cty Viễn thông Quân
đội trở thành Tập đoàn Viễn thông Quân đội theo Quyết định
2097/2009/QĐ-TTg ngày 14/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ;
- Công ty Hợp tác Kinh tế
Quân khu IV trở thành Tổng Cty Hợp tác Kinh tế QK IV theo Quyết
định 147/QĐ-BQP ngày 9/2/2010 của Bộ QP;
- Công ty 36 trở
thành Tổng Cty 36 theo Quyết định 3036/QĐ-BQP ngày 23/8/2011 của Bộ
QP;
- Công ty 319 trở
thành Tổng Cty 319 theo Quyết định 3037/QĐ-BQP ngày 23/8/2011 của Bộ
QP;
- Công ty 789 trở
thành Tổng Cty 789 theo Quyết định 3038/QĐ-BQP ngày 23/8/2011 của Bộ
QP;
- Công ty Xây dựng Lũng
Lô trở thành Tổng Cty Xây dựng Lũng Lô theo Quyết định 99/QĐ-BQP
ngày 12/1/2012 của Bộ QP, v.v...
Ấy là chưa kể trong Bộ Quốc phòng
còn có một loạt tổng công ty khác nữa như:
- Tổng Cty Xây dựng Trường
Sơn,
- Tổng Cty Thành An,
- Tổng Cty Thái Sơn,
- Tổng Cty Đông Bắc,
- Tổng Cty 15,
- Tổng Cty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc
phòng, thậm chí cả Ngân hàng TMCP Quân đội nữa, v.v.
Với số lượng tổng công ty hùng hậu như vậy thì
rõ ràng số công ty (trực thuộc tập đoàn, tổng công ty, tổng cục, quân khu,
v.v.) là không đếm xuể. Ngoài ra, khi các DN mẹ “lên đời”, như một lẽ tự nhiên,
chúng đều “đẻ” thêm nhiều DN con khác.
Trong khi đó, Quân Giải phóng
Nhân dân Trung Quốc – trên thực tế hầu như là đối tượng tác chiến duy nhất và
nguy hiểm nhất của QĐND Việt Nam – lại đang trên đà chuyên nghiệp hoá một cách
nhanh chóng.
Ngay từ năm 1998, chính phủ Trung
Quốc đã chính thức cấm quân đội tham gia vào các hoạt động kinh tế. Quyết sách
này đã góp phần quan trọng làm cho quân đội Trung Quốc ngày càng mạnh hơn,
chuyên nghiệp hơn và hạn chế được tham nhũng, một tác nhân nguy hiểm làm xói
mòn sức mạnh của quân đội.
Tham nhũng trong các DNNN ở Việt
Nam lâu nay vẫn là một thực trạng nhức nhối và nan giải; tham nhũng trong các
DNNN thuộc quân đội, công an (vốn nhận được nhiều ưu đãi của Nhà nước cùng với cơ
chế quản lý lỏng lẻo) lại càng diễn ra trắng trợn do tính chất quân phiệt và
tương đối khép kín của lực lượng vũ trang. Vì thế, việc duy trì một bộ phận làm
kinh tế trong quân đội, công an thực chất là một hình thức nuôi dưỡng tham
nhũng, làm tha hoá lực lượng vũ trang và ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an
ninh - quốc phòng cũng như môi trường kinh tế - xã hội của đất nước (chẳng hạn
như tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, đặc
biệt là kinh tế tư nhân).
Theo nguyên tắc “tập trung dân
chủ” của ĐCS Việt Nam, Bộ Chính trị thường là chủ thể khởi thảo rồi lại được
Ban Chấp hành TW “giao” cho nhiệm vụ thực hiện nghị quyết; việc BCHTW “thông
qua” nghị quyết hay quyết sách của đảng thường chỉ mang tính hình thức nhiều
hơn là thực chất. Trên thực tế, phần lớn những người từng khởi thảo và được
giao nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 4 khoá X trên đây lại nằm trong số những
người khởi xướng và “chịu trách nhiệm” thực hiện Nghị quyết 4 khoá XI
- “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
“Ôn cố tri tân”, xem ra chỉ những
ai vẫn còn nguyên tinh thần “lạc quan cách mạng” của ngày 7/5/1954 (chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ) mới dám đặt cược vào Nghị quyết 4 khoá XI này vậy. Đáng
tiếc cho các tác giả của nghị quyết “chỉnh đốn Đảng” lần này (cuộc “chỉnh đốn
Đảng” đầu tiên là vào năm 1947), lớp người đó hiện nay hoặc là đã khuất bóng,
hoặc là đã “tỉnh ngộ” từ rất lâu rồi.
Hà Nội, 17/7/2012
ÿ Lê Anh Hùng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét